vanban.org

Bản án 55/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka X và anh K’B được ly hôn.

Về nuôi con chung: Khi ly hôn, giao con chung tên K’B1; sinh ngày 01/5/2013 cho Ka X trực tiếp nuôi dưỡng, anh K’B không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình. T… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ka X và K' B"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka X và anh K’B được ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 143 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN DI LINH
TỈNH LÂM ĐỒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 30-6-2025
V/v tranh chấp hôn nhân
và gia đình

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DI LINH, TỈNH LÂM ĐỒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Bá Cường Huy.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Đào Duy Trâm và bà Lê Thị Chung.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phí Hoàng Tuấn – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng tham gia phiên tòa: Ông K’Dem – Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 6 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 167/2025/TLST-HNGĐ ngày 06/5/2025 của Tòa án nhân dân huyện Di Linh về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 29/2025/QĐXX-TA ngày 27 tháng 5 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2025/QĐST-DS, ngày 12 tháng 6 năm 2025 của Tòa án huyện Di Linh giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Ka X; sinh năm 1992.

Địa chỉ: Số 27 tổ dân phố Di Linh T, thị trấn Di L, huyện Di L, tỉnh Lâm Đ.

- Bị đơn: Anh K’B; sinh năm 1991.

Địa chỉ: Số 128 tổ dân phố Di Linh T, thị trấn Di L, huyện Di L, tỉnh Lâm Đ.

Tại phiên tòa chị Ka X có mặt, vắng mặt anh K’B không lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn, chị Ka X trình bày như sau:

- Về hôn nhân: Chị và Anh K’B sống chung có đăng ký kết hôn vào ngày 01/6/2015 tại UBND thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng sống chung tại tổ dân phố Di Linh thượng 1, thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng đầu năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn là do anh K’B thường hay uống rượu, tụ tập bạn bè không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến kinh tế khó khăn, vợ chồng có nhiều lần đánh nhau. Từ đầu 2024 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Anh K’B về sống với gia đình bố mẹ đẻ. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không qua lại, không có phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng gì cả. Nay xác định tình cảm vợ chồng không còn nên chị Ka X xin ly hôn với anh K’B.

- Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên K’B1; sinh ngày 01/5/2013. Từ Khi vợ chồng ly thân, Chị Ka X là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Khi ly hôn chị Ka X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh K’B cấp dưỡng nuôi con. Chi Ka X cam kết không có con chung, không có con riêng nào khác, sức khỏe của chị bình thường, không thai nghén gì cả. Hiện nay chị làm vườn cà phê, thu nhập khoảng 7.000.000đ/ 01 tháng.

- Về tài sản chung: Vợ chồng tự thỏa thuận, Tài sản riêng của mỗi người tự quản lý. Khi ly hôn không yêu cầu tòa án giải quyết về phần tài sản. Vợ chồng cũng không có thỏa thuận gì về chế độ tài sản của vợ chồng. Chi Ka X tự nguyện chịu án phí theo quy định.

Chứng cứ chứng minh cho yêu cầu là có căn cứ và hợp pháp: Giấy chứng nhận kết hôn, Giấy khai sinh của con.

Anh K’B đã nhận được thông báo thụ lý và các quyết định của Tòa án, nhưng không đến Tòa làm việc, vì thế nên không có lời trình bày, Tòa án không ghi được lời khai của anh K’B.

Tại phiên Tòa.

Chị Ka X trình bày: Trước khi làm đơn xin ly hôn, chị có trao đổi với anh K’B và hai bên gia đình rồi. Trong thời gian ly thân, anh K’B cũng không thường xuyên đến thăm nom các con chung. Đến khoảng đầu năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng. Từ đầu 2024 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Về yêu cầu xin ly hôn, Ka X không còn yêu thương anh K’B nên giữ nguyên ý kiến xin ly hôn và xin trực tiếp nuôi con, không yêu cầu giải quyết về tài sản chung.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh phát biểu:

Thông qua kiểm sát việc giải quyết vụ án, nhận thấy Hội đồng xét xử và các đương sự đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Về nội dung tranh chấp. Đề nghị căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 82; Điều 110; Điều 116 và Điều 117 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014, xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn. Ngoài ra đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị về phần án phí và quyền kháng cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về thẩm quyền và quan hệ tranh chấp: Bị đơn có nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay tại huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng, tranh chấp về ly hôn. Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Di Linh có thẩm quyền giải quyết là đúng quy định.

Về thủ tục tố tụng: Các đương sự đã được Toà án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa chị Ka X có mặt, vắng mặt anh K’B lần thứ hai không lý do. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để đảm bảo quyền lợi cho các đương sự. Tòa án tiến hành đưa vụ án ra xét xử là đúng quy định.

Nội dung tranh chấp.

Về quan hệ hôn nhân: chị Ka X và anh K’B sống chung có đăng ký kết hôn ngày 01/6/2015 tại UBND thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Sau khi cưới nhau thì vợ chồng sống chung tại tổ dân phố Di Linh thượng 1, thị trấn Di Linh, huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng. Đến khoảng đầu năm 2022 vợ chồng mâu thuẫn là do anh K’B thường hay uống rượu, tụ tập bạn bè không chăm lo cho cuộc sống gia đình, dẫn đến kinh tế khó khăn, vợ chồng có nhiều lần đánh nhau. Từ đầu 2024 thì vợ chồng sống ly thân cho đến nay. Anh K’B về sống với gia đình bố mẹ đẻ. Từ khi ly thân đến nay, vợ chồng không qua lại, không có phương án hàn gắn tình cảm vợ chồng. Hội đồng xét xử nhận thấy, tình cảm vợ chồng không còn yêu thương quý trọng, lo lắng cho cuộc sống chung, mục đích hôn nhân không đạt được. Chị Ka X xin ly hôn, anh K’B cũng đồng ý ly hôn. Căn cứ Điều 51, Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, Hội đồng xét xử cần xem xét giải quyết cho chị Ka X và anh K’B sống được ly hôn là phù hợp.

Về nuôi con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên K’B1; sinh ngày 01/5/2013. Từ Khi vợ chồng ly thân, Chị Ka X là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung cho đến nay. Khi ly hôn chị Ka X yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung, không yêu cầu anh K’B cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy con chung còn nhỏ. Bản thân chị Ka X có thu nhập, có công việc và chỗ ở ổn định. Nhằm đảm bảo sự phát triển bình thường cho con nhỏ, tránh sự xáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày của con chung. Khi Tòa án giải quyết ly hôn cần giao con chung cho Ka X trực tiếp nuôi dưỡng, anh K’B không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về phần tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết.

Về Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Chị Ka X phải chịu án phí xin ly hôn là đúng quy định.

Xét quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Di Linh về việc giải quyết vụ án là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 và khoản 2 Điều 143, khoản 1 Điều 144, khoản 4 Điều 147; Điều 227, 235 và Điều 266 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Căn cứ vào Điều 51, Điều 56; Điều 81; 82; 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

- Căn cứ vào điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội Khóa XIV.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Ka X và anh K’B được ly hôn.

2. Về nuôi con chung: Khi ly hôn, giao con chung tên K’B1; sinh ngày 01/5/2013 cho Ka X trực tiếp nuôi dưỡng, anh K’B không phải cấp dưỡng nuôi con. Việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung và thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con sau khi ly hôn được thực hiện theo luật hôn nhân và gia đình.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

3. Về phần tài sản: Không đề cập giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Ka X phải chịu là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí xin ly hôn. Chị Ka X đã nộp đủ theo biên lai thu tiền số 0000501, ngày 06/5/2025 của Chi cục thi hành án Dân sự huyện Di Linh, tỉnh Lâm Đồng.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Ka X có mặt tại phiên Tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh K’B vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết theo quy định.

CÁC HỘI THẨM NÂN DÂN

THẨM PHÁN CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ