vanban.org

Bản án 55/2025/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc K về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Chị Nguyễn Thị Ngọc K được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc K và anh Nguyễn Văn B có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 18/10/2014. Giao chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo N và cháu Nguyễn Ngọc Y, ghi nhận chị K không yêu cầu anh B … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Ngọc K - Nguyễn Văn B"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc K về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Chị Nguyễn Thị Ngọc K được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.
  • Căn cứ chính? Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
KHU VỰC 11-TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2025/HNGĐ-ST
Ngày: 08-9-2025
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 11-TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Trần Thị Bạch Tuyết;

2. Bà Hồ Thị Mỹ Phượng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Tống Hoàng Tuấn, Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Lâm Hà Thuyên, Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 11-Tây Ninh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 111/2025/TLST-HNGĐ ngày 09 tháng 4 năm 2025 về “Tranh ch p ly h n, nu i con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 37/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 01 tháng 8 năm 2025 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: chị Nguyễn Thị Ngọc K, sinh năm 1988; vắng mặt.

Cư trú tại: tổ G, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là tổ G, ấp S, xã T, tỉnh Tây Ninh).

Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx.

- Bị đơn: anh Nguyễn Văn B, sinh năm 1982; vắng mặt.

Cư trú tại: tổ G, ấp S, xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh (nay là tổ G, ấp S, xã T, tỉnh Tây Ninh).

Số định danh cá nhân: xxxxxxxxxxxx.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 3 năm 2025 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn – chị Nguyễn Thị Ngọc K trình bày:

Chị và anh Nguyễn Văn B tự nguyện chung sống vợ chồng vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Quá trình chung sống anh chị hạnh phúc được thời gian những năm đầu. Từ năm 2019 anh chị phát sinh mâu thuẫn ngày một nặng nề hơn do bất đồng quan điểm sống, thường xuyên cự cãi nhau, anh B thường xuyên uống rượu và chửi chị. Anh chị không chung sống cùng nhau từ tháng 6/2023 đến nay. Chị yêu cầu được ly hôn với anh B.

Về con chung: Chị và anh B có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 18/10/2014. Hiện tại chị đang nuôi dưỡng. Chị yêu cầu được nuôi dưỡng 02 con, không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc K không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng anh B vắng mặt kh ng có lý do, kh ng nộp cho Tòa án văn bản ghi ý kiến của mình và cung c p lời khai đối với yêu cầu của nguyên đơn, kh ng tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, c ng khai chứng cứ và hòa giải.

Tại phiên tòa:

Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Ngọc K có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Văn B đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 11-Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, thu thập chứng cứ, xác định quan hệ tranh chấp đúng thẩm quyền, xác định đúng tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền và việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và người tham gia tố tụng đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về việc giải quyết vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 51, 56, 81, 82 Luật Hôn nhân gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Về hôn nhân: chấp nhận đơn yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn, chị Nguyễn Thị Ngọc K được ly hôn với anh Nguyễn Văn B. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 18/10/2014 cho chị Nguyễn Thị Ngọc K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục, chị K không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: không có. Về án phí: chị K chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, xét th y:

Về tố tụng: chị Nguyễn Thị Ngọc K có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt; anh Nguyễn Văn B đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai mà vẫn vắng mặt nên căn cứ vào Điều 227; khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt đối với chị K và anh B.

Về hôn nhân: chị K và anh B tự nguyện chung sống vợ chồng từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Tây Ninh. Chị K trình bày vợ chồng chung sống mâu thuẫn, thường xuyên cự cãi nhau, hiện tại anh chị không chung sống cùng nhau. Tòa án đã tiến hành triệu tập hợp lệ anh B để giao nộp văn bản ghi ý kiến, cung cấp lời khai đối với yêu cầu của chị K; tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh B vắng mặt không có lý do. Qua thu thập chứng cứ thể hiện: anh B không có mặt tại địa phương. Căn cứ Điều 19 Luật Hôn nhân gia đình về tình nghĩa vợ chồng thì: “1. Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thuỷ, t n trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các c ng việc trong gia đình. 2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau…”. Hiện tại anh chị không còn chung sống cùng nhau nên xét thấy hôn nhân của chị K và anh B không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị K.

Về con chung: chị Nguyễn Thị Ngọc K và anh Nguyễn Văn B có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 18/10/2014. Cháu N và cháu Y có nguyện vọng được sống với chị K. Quá trình giải quyết vụ án không làm việc được với anh B nên không thể hiện ý chí muốn được nuôi con của anh B. Do đó, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình giao chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu N và cháu Y là hoàn toàn phù hợp. Ghi nhận chị K không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con chung.

Về tài sản chung, nợ chung: chị K không yêu cầu giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Ngọc K phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa về việc giải quyết vụ án là có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Ngọc K về việc “Tranh chấp ly hôn, nuôi con”. Chị Nguyễn Thị Ngọc K được ly hôn với anh Nguyễn Văn B.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Ngọc K và anh Nguyễn Văn B có 02 con chung tên Nguyễn Thị Bảo N, sinh ngày 14/11/2012 và Nguyễn Ngọc Y, sinh ngày 18/10/2014. Giao chị K trực tiếp trông nom, chăm sóc, giáo dục và nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo N và cháu Nguyễn Ngọc Y, ghi nhận chị K không yêu cầu anh B cấp dưỡng nuôi con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: chị Nguyễn Thị Ngọc K không yêu cầu giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm:

Chị Nguyễn Thị Ngọc K phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí chị K đã nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002223 ngày 09 tháng 4 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh (nay là Phòng thi hành án dân sự khu vực 11). Chị Nguyễn Thị Ngọc K đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ