- Tranh chấp gì? án hành chính — "Phan Quỳnh U"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Quỳnh U.
- Căn cứ chính? Điều 158 Luật Tố tụng hành chính; Điều 116 Luật Tố tụng hành chính; Điều 188 Luật Đất đai
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2025/HC-ST Ngày: 28-3-2025 V/v: Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thanh Hòa
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Hoàng Tương
Bà Lê Thị Hằng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Huyền - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thuỳ Dương - Kiểm sát viên.
Ngày 28 tháng 3 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 232/2024/TLST-HC ngày 26 tháng 11 năm 2024, về việc: “Khiếu kiện quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2025/QĐXXST-HC ngày 14 tháng 3 năm 2025, giữa các đương sự:
Người khởi kiện: Bà Phan Quỳnh U, sinh năm 1997.
Địa chỉ: Khu phố 1, phường P, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận.
Người đại diện theo uỷ quyền của bà Phan Quỳnh U: Bà Nguyễn Hải Đ, sinh năm 1985.
Địa chỉ: Khu phố 11, phường P2, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận.
Người bị kiện: Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận.
Địa chỉ: Khu dân cư Bắc Xuân An, phường X, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận.
Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của người bị kiện: Ông Trần Anh T – Giám đốc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1.
Địa chỉ: Số 390 Trần Hưng Đạo, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận.
- Ủy ban nhân dân thành phố P1.
Địa chỉ: Số 479 Trần Hưng Đạo, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo uỷ quyền của bà Phan Quỳnh U trình bày:
Năm 2019, bà Đỗ Thị H là mẹ của bà Phan Quỳnh U nhận uỷ quyền thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2, đất ở nông thôn, tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận từ bà Trần Thị Mỹ L theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 226150 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 05/4/2019. Ngày 11/10/2024, bà H tặng cho quyền sử dụng đất nêu trên cho bà Phan Quỳnh U theo Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất do Văn phòng công chứng Nguyễn Phúc chứng thực ngày 11/10/2024.
Sau đó, bà U nộp hồ sơ tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 để đăng ký biến động sang tên Giấy chứng nhận từ bà Trần Thị Mỹ L, người nhận uỷ quyền là bà Đỗ Thị H qua tên bà U theo hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất đã được chứng thực nêu trên.
Ngày 15/10/2024 thì bà U bị Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất kèm theo Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT. Nội dung công văn nêu: “Qua kiểm tra, phần diện tích đất ở tại nông thôn trên được UBND thành phố P1 cho phép chuyển mục đích sử dụng đất (tại Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 cho ông Hồ Ngọc M) nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh Bình Thuận đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt” nên Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 đã hoàn trả lại hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Phan Quỳnh U.
Căn cứ Luật Đất đai năm 2013, trường hợp nhận tặng cho quyền sử dụng đất của bà U chưa có quyết định thông báo thu hồi đất, đất không bị tranh chấp, đất đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất được thực hiện các quyền theo quy định của pháp luật; trong đó có quyền chuyển nhượng và nhận chuyển nhượng, quyền tặng cho và nhận tặng cho quyền sử dụng đất.
Nay Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 không thực hiện nhiệm vụ công vụ của mình trong việc đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất của bà U là làm hạn chế quyền của người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất đã được pháp luật bảo vệ, xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của bà U. Do đó, bà U yêu cầu Toà án giải quyết:
- Hủy Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Phan Quỳnh U.
- Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1, Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất do nhận tặng cho của bà Phan Quỳnh U.
Người bị kiện Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận tại Công văn số 4352/VPĐKĐĐ-ĐKCG ngày 18/12/2024 trình bày:
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận thống nhất ý kiến Công văn số 11170/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 12/12/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 và không có hồ sơ, tài liệu nào khác để cung cấp.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 tại Công văn số 11170/CNVPĐKĐĐPT-TTLT ngày 12/12/2024 trình bày:
Ngày 14/10/2024, Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 có tiếp nhận hồ sơ nhận tặng cho quyền sử dụng đất của bà Phan Quỳnh U tại biên nhận số 242/BPTNTKQ.
Bà Phan Quỳnh U nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Trần Thị Mỹ L đối với thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 226150 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 05/4/2019, cập nhật biến động ngày 06/5/2019 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ L.
Thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận số CQ 226150, có lịch sử biến động như sau:
- Ông Hồ Ngọc M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CM 274895 ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.000,0m2 đất trồng cây lâu năm.
- Ngày 13/6/2018, UBND thành phố P1 ban hành Quyết định số 4386/QĐ-UBND về việc cho phép ông Hồ Ngọc M được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 793,1m2 và được UBND thành phố P1 cấp đổi thành Giấy chứng nhận số CN 222741 ngày 03/7/2018.
- Ông Hồ Ngọc M thực hiện tách thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận CN 222741 thành 03 (ba) thửa đất, trong đó có thửa đất số 572 với diện tích 337,5m2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CP 568830 ngày 30/10/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Đoàn Duy P ngày 23/11/2018, cập nhật biến động ngày 14/01/2019 chuyển nhượng cho ông Đoàn Công T1 diện tích 112,5m2, diện tích còn lại là 225m2.
- Ông Đoàn Duy P tách thửa đất số 572, tờ bản đồ số 5 thành thửa đất số 712 và thửa đất số 713, trong đó thửa đất số 713 có diện tích 112,5m2 chuyển nhượng cho ông Trần Văn L1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CQ 226150 ngày 05/4/2019, cập nhật biến động ngày 06/5/2019 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ L.
Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận số CQ 226150 có nguồn gốc do ông Hồ Ngọc M được UBND thành phố P1 cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh Bình Thuận.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh Bình Thuận có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 5223/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023 có nêu: “…2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở Tài nguyên và Môi trường”.
Căn cứ công văn nêu trên của UBND tỉnh Bình Thuận, hiện nay UBND thành phố P1 đang rà soát và kiến nghị đề xuất giải quyết đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây.
Tại thời điểm giải quyết hồ sơ, Chi nhánh Văn phòng chưa nhận được ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định. Do đó, ngày 15/10/2024, Chi nhánh Văn phòng ban hành Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Phan Quỳnh U. Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc của Chi nhánh Văn phòng thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo lại cho bà U được biết và phối hợp thực hiện giải quyết hồ sơ theo quy định.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân thành phố P1 tại Công văn số 1742/UBND-KT ngày 13/3/2025 trình bày:
Ông Hồ Ngọc M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CM 274895 ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.000,0m2 đất trồng cây lâu năm.
Ngày 13/6/2018, UBND thành phố P1 ban hành Quyết định số 4386/QĐ-UBND về việc cho phép ông Hồ Ngọc M được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 793,1m2 và được UBND thành phố P1 cấp đổi thành Giấy chứng nhận số CN 222741 ngày 03/7/2018.
Ông Hồ Ngọc M thực hiện tách thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận CN 222741 thành 03 (ba) thửa đất, trong đó có thửa đất số 572 với diện tích 337,5m2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CP 568830 ngày 30/10/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Đoàn Duy P ngày 23/11/2018, cập nhật biến động ngày 14/01/2019 chuyển nhượng cho ông Đoàn Công T1 diện tích 112,5m2, diện tích còn lại là 225m2.
Ông Đoàn Duy P tách thửa đất số 572, tờ bản đồ số 5 thành thửa đất số 712 và thửa đất số 713, trong đó thửa đất số 713 có diện tích 112,5m2 chuyển nhượng cho ông Trần Văn L1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CQ 226150 ngày 05/4/2019, cập nhật biến động ngày 06/5/2019 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ L.
Bà Phan Quỳnh U nhận tặng cho quyền sử dụng đất từ bà Trần Thị Mỹ L đối với thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 226150 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 05/4/2019, cập nhật biến động ngày 06/5/2019 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ L.
Qua rà soát hồ sơ thì thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận số CQ 226150 có nguồn gốc do ông Hồ Ngọc M được UBND thành phố P1 cho phép chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nhưng không phù hợp quy hoạch sử dụng đất theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh Bình Thuận.
Tại Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nêu trên, thì trong phần cơ sở pháp lý căn cứ vào Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P1 đã được UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 và Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P1 đã được UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018.
Căn cứ Mảnh chỉnh lý, bản đồ địa chính số 224-2018 kèm theo tại Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 do Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 lập ngày 29/5/2018 đối chiếu với các quy hoạch như sau:
- Căn cứ Quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 và Kế hoạch sử dụng đất 05 năm kỳ đầu (2011-2015) của thành phố P1 đã được UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
- Căn cứ Kế hoạch sử dụng đất năm 2018 của thành phố P1 đã được UBND tỉnh Bình Thuận phê duyệt tại Quyết định số 870/QĐ-UBND ngày 03/4/2018 thì vị trí khu đất cho phép chuyển mục đích sử dụng đất thuộc quy hoạch đất trồng cây lâu năm.
Hiện nay, UBND thành phố P1 chưa thu hồi và hủy Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nêu trên.
Căn cứ Điều 52 Luật đất đai năm 2013 thì việc UBND thành phố P1 cho phép ông Hồ Ngọc M chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn theo Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 thì không phù hợp với Quy hoạch sử dụng đất và Kế hoạch sử dụng đất được cấp có thẩm quyền phê duyệt.
Đối với nội dung bà Phan Quỳnh U khởi kiện yêu cầu Toà án huỷ Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 về việc hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà Phan Quỳnh U và buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1, Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận thực hiện nhiệm vụ công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động chuyển quyền sử dụng đất do nhận tặng cho của bà Đỗ Thị H và bà Phan Quỳnh U nêu trên thì không thuộc thẩm quyền của UBND thành phố P1 vì Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 là đơn vị trực thuộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận – Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận (nay là Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Bình Thuận).
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Trong quá trình thụ lý vụ án và tại phiên tòa, người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định pháp luật.
+ Về việc giải quyết vụ án: Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 viện dẫn vì chưa có ý kiến chỉ đạo giải quyết hồ sơ của cấp có thẩm quyền liên quan đến vướng mắc các trường hợp hồ sơ chuyển quyền nhưng thửa đất đã chuyển mục đích chưa đảm bảo theo quy định nên không giải quyết hồ sơ xin cập nhật biến động cho bà Phan Quỳnh U là không có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phan Quỳnh U. Tuyên xử: Hủy Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1; Buộc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn cứ vào đơn khởi kiện và các tài liệu, chứng cứ khác đã được kiểm tra, xem xét tại phiên tòa, ý kiến của Kiểm sát viên, các quy định của pháp luật, Hội đồng xét xử sơ thẩm vụ án hành chính thấy:
Về đối tượng khởi kiện và thẩm quyền giải quyết của Tòa án: Bà Phan Quỳnh U khởi kiện yêu cầu Tòa án hủy Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 về việc thông báo kết quả giải quyết hồ sơ hành chính của bà Phan Quỳnh U. Buộc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1, tỉnh Bình Thuận; Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận thực hiện đúng nhiệm vụ công vụ được giao trong trường hợp đăng ký biến động do nhận tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Phan Quỳnh U đối với thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở tại nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận. Xét thấy, quyết định hành chính và hành vi hành chính trên có nội dung điều chỉnh các quan hệ trong hoạt động quản lý nhà nước về đất đai, là đối tượng khởi kiện vụ án hành chính, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận theo quy định tại Khoản 1 Điều 30, Khoản 4 Điều 32 của Luật tố tụng hành chính.
Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 15/10/2024, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận ban hành Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT thông báo hoàn trả hồ sơ chuyển quyền sử dụng đất của bà U. Ngày 23/10/2024, bà Phan Quỳnh U nộp đơn khởi kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính của Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận tại Tòa án, là còn trong thời hiệu khởi kiện theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 116 Luật tố tụng hành chính.
Tại phiên tòa, bà Nguyễn Hải Đ là người đại diện theo ủy quyền của bà Phan Quỳnh U là người khởi kiện; Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận là người bị kiện; Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1, UBND thành phố P1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đều vắng mặt nhưng có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 158 của Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành giải quyết vụ án theo thủ tục chung.
Tính hợp pháp của Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT, ngày 15/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1:
Về trình tự, thẩm quyền: Việc tiếp nhận và giải quyết hồ sơ cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thuộc thẩm quyền của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận thông qua các Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai tại huyện, thành phố. Do đó, Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 thuộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận tiếp nhận là đúng thẩm quyền và trình tự theo quy định tại Điều 95 Luật đất đai; Điều 70, Điều 85 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ và Điều 9, Điều 11 Thông tư số 24/2014/TT-BTNMT ngày 19/5/2014 của Bộ Tài nguyên và Môi trường.
Về nội dung: Qua kiểm tra rà soát thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận có nguồn gốc chuyển mục đích sử dụng đất nhưng không phù hợp quy hoạch (quy hoạch đất trồng cây lâu năm) theo Bản đồ quy hoạch sử dụng đất đến năm 2020 tại Quyết định số 3200/QĐ-UBND ngày 13/12/2013 của UBND tỉnh Bình Thuận đã được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt.
Ngày 30/11/2023, UBND tỉnh Bình Thuận có Công văn số 4721/UBND-KT về việc ý kiến về nội dung báo cáo và đề nghị của Sở Tài nguyên và Môi trường tại Công văn số 5223/STNMT-CCQLĐĐ ngày 20/11/2023 có nêu: “…2. Giao trách nhiệm cho UBND các huyện, thị xã, thành phố tiếp tục tự rà soát và tự chịu trách nhiệm đối với các trường hợp đã cho phép chuyển mục đích sử dụng đất trước đây mà không đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất để làm rõ trách nhiệm của từng đơn vị, cá nhân tham mưu, giải quyết trước đây. Trên cơ sở kết quả rà soát, có báo cáo và kiến nghị đề xuất gửi Sở Tài nguyên và Môi trường”.
Sau khi các cấp có thẩm quyền có ý kiến chỉ đạo liên quan đến các nội dung vướng mắc thì Chi nhánh Văn phòng sẽ thông báo cho bà được biết và phối hợp thực hiện.
Xét về nội dung vụ án:
Thửa đất thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thànhphố P1, tỉnh Bình Thuận theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CQ 226150 do Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp ngày 05/4/2019, cập nhật biến động ngày 06/5/2019 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ L.
Thửa đất số 713, tờ bản đồ số 05 theo Giấy chứng nhận số CQ 226150, có lịch sử biến động như sau:
- Ông Hồ Ngọc M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CM 274895 ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.000,0m2 đất trồng cây lâu năm.
- Ngày 13/6/2018, UBND thành phố P1 ban hành Quyết định số 4386/QĐ-UBND về việc cho phép ông Hồ Ngọc M được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 793,1m2 và được UBND thành phố P1 cấp đổi thành Giấy chứng nhận số CN 222741 ngày 03/7/2018.
- Ông Hồ Ngọc M thực hiện tách thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận CN 222741 thành 03 (ba) thửa đất, trong đó có thửa đất số 572 với diện tích 337,5m2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CP 568830 ngày 30/10/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Đoàn Duy P ngày 23/11/2018, cập nhật biến động ngày 14/01/2019 chuyển nhượng cho ông Đoàn Công T1 diện tích 112,5m2, diện tích còn lại là 225m2.
- Ông Đoàn Duy P tách thửa đất số 572, tờ bản đồ số 5 thành thửa đất số 712 và thửa đất số 713, trong đó thửa đất số 713 có diện tích 112,5m2 chuyển nhượng cho ông Trần Văn L1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CQ 226150 ngày 05/4/2019, cập nhật biến động ngày 06/5/2019 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ L.
- Ngày 11/10/2024, bà Trần Thị Mỹ L (thông qua người đại diện theo ủy quyền là bà Đỗ Thị H) lập hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất cho bà Phan Quỳnh U được Văn phòng Công chứng Nguyễn Phúc công chứng số 002772, quyển số 04/2024TP/CC-SCC/HĐGD.
Xét về điều kiện tặng cho quyền sử dụng thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận thì thấy:
Ông Hồ Ngọc M được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CM 274895 ngày 17/5/2018 đối với thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5, diện tích 1.000,0m2 đất trồng cây lâu năm.
Ngày 13/6/2018, UBND thành phố P1 ban hành Quyết định số 4386/QĐ-UBND về việc cho phép ông Hồ Ngọc M được chuyển mục đích sử dụng đất sang đất ở tại nông thôn với diện tích 793,1m2 và được UBND thành phố P1 cấp đổi thành Giấy chứng nhận số CN 222741 ngày 03/7/2018.
Ông Hồ Ngọc M thực hiện tách thửa đất số 505, tờ bản đồ số 5 theo Giấy chứng nhận CN 222741 thành 03 (ba) thửa đất, trong đó có thửa đất số 572 với diện tích 337,5m2 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CP 568830 ngày 30/10/2018, cập nhật chuyển nhượng cho ông Đoàn Duy P ngày 23/11/2018, cập nhật biến động ngày 14/01/2019 chuyển nhượng cho ông Đoàn Công T1 diện tích 112,5m2, diện tích còn lại là 225m2.
Ông Đoàn Duy P tách thửa đất số 572, tờ bản đồ số 5 thành thửa đất số 712 và thửa đất số 713, trong đó thửa đất số 713 có diện tích 112,5m2 chuyển nhượng cho ông Trần Văn L1 được Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh Bình Thuận cấp Giấy chứng nhận số CQ 226150 ngày 05/4/2019, cập nhật biến động ngày 06/5/2019 chuyển nhượng cho bà Trần Thị Mỹ L.
Ngày 11/10/2024, bà Trần Thị Mỹ L tặng cho thửa đất trên cho bà Phan Quỳnh U, như vậy bà Phan Quỳnh U là người nhận tặng cho thứ 05 đối với người được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu.
Tại Điều 133 Bộ luật dân sự 2015 quy định về việc “Bảo vệ quyền lợi của người thứ ba ngay tình khi giao dịch dân sự vô hiệu”:
“2. Trường hợp giao dịch dân sự vô hiệu nhưng tài sản đã được đăng ký tại cơ quan nhà nước có thẩm quyền, sau đó được chuyển giao bằng một giao dịch khác cho người thứ ba ngay tình và người này căn cứ vào việc đăng ký đó mà xác lập, thực hiện giao dịch thì giao dịch đó không bị vô hiệu …”.
Đồng thời, tại điểm d khoản 2 Điều 106 Luật Đất đai năm 2013 quy định “2. Nhà nước thu hồi Giấy chứng nhận đã cấp trong các trường hợp sau đây:
d) Giấy chứng nhận đã cấp không đúng thẩm quyền, không đúng đối tượng sử dụng đất, không đúng diện tích đất, không đủ điều kiện được cấp, không đúng mục đích sử dụng đất hoặc thời hạn sử dụng đất hoặc nguồn gốc sử dụng đất theo quy định của pháp luật đất đai, trừ trường hợp người được cấp Giấy chứng nhận đó đã thực hiện chuyển quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định của pháp luật đất đai”.
Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận không cung cấp cho Tòa án bất cứ tài liệu chứng cứ gì chứng minh đất hiện nay đang có tranh chấp hay bị kê biên theo quyết định của cơ quan có thẩm quyền. Việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 và Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận cho rằng: Thửa đất của bà Phan Quỳnh U được nhận tặng cho từ bà Trần Thị Mỹ L có nguồn gốc từ việc UBND thành phố P1 cho phép chuyển mục đích sử dụng đất không phù hợp quy hoạch sử dụng đất và lấy lý do chờ chỉ đạo, hướng dẫn của cơ quan cấp trên để từ chối thực hiện thủ tục đăng ký biến động đất đai đối với hồ sơ của bà U mà không đưa ra được bất cứ một cơ sở pháp lý nào là không phù hợp quy định của pháp luật.
Điều 188 Luật đất đai 2013 quy định về Điều kiện thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất: “...1. Người sử dụng đất được thực hiện các quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp quyền sử dụng đất; góp vốn bằng quyền sử dụng đất khi có các điều kiện sau đây: a) Có Giấy chứng nhận, trừ trường hợp quy định tại khoản 3 Điều 186 và trường hợp nhận thừa kế quy định tại khoản 1 Điều 168 của Luật này; b) Đất không có tranh chấp; c) Quyền sử dụng đất không bị kê biên để bảo đảm thi hành án; d) Trong thời hạn sử dụng đất...”
Căn cứ các quy định trên thì thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận có đầy đủ điều kiện để tặng cho theo quy định tại Điều 188 của Luật Đất đai 2013, việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 không giải quyết, hoàn trả hồ sơ đăng ký biến động đất đai đối với thửa đất trên là không có căn cứ.
Mặt khác, tại công văn số 1742/UBND-KT ngày 13/3/2025 của UBND thành phố P1 về việc có ý kiến theo nội dung khởi kiện của bà Phan Quỳnh U cũng đã xác định:“Hiện nay, UBND thành phố P1 chưa thu hồi và hủy Quyết định số 4386/QĐ-UBND ngày 13/6/2018 nêu trên”.
Căn cứ các quy định trên thì thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận có đầy đủ điều kiện đăng ký biến động theo quy định tại Điều 95 của Luật Đất đai 2013, việc Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 không giải quyết, hoàn trả hồ sơ đăng ký biến động đất đai đối với thửa đất trên là không có căn cứ.
Từ các chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử nhận thấy việc Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai P1 ban hành Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/10/2024 là đúng về trình tự thủ tục, thẩm quyền nhưng không đúng về mặt nội dung theo quy định pháp luật, làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà Phan Quỳnh U. Vì vậy, bà Phan Quỳnh U yêu cầu hủy Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1; đồng thời buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 có trách nhiệm tiếp nhận lại và giải quyết hồ đăng ký biến động đối với thửa đất số 713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận cho bà Phan Quỳnh U là có cơ sở nên được chấp nhận.
Quan điểm của Kiểm sát viên phù hợp với các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quy định pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
Về án phí sơ thẩm: Do yêu cầu khởi kiện của bà Phan Quỳnh U được chấp nhận nên theo quy định tại khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội thì Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận phải chịu án phí hành chính sơ thẩm.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 3, Điều 30, Điều 32, điểm a khoản 3 Điều 116, khoản 1 Điều 158, điểm b khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng hành chính;
Căn cứ Điều 95; Điều 188 Luật Đất đai năm 2013;
Điều 79 và khoản 5 Điều 87 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UNTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phan Quỳnh U.
[1.1] Hủy Thông báo số 1639/TB-CNVPĐKĐĐPT ngày 15/10/2024 của Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 thông báo về việc hoàn trả hồ sơ của bà Phan Quỳnh U.
[1.2] Buộc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận và Chi nhánh Văn phòng Đăng ký đất đai P1 thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định pháp luật việc bà Phan Quỳnh U đăng ký biến động đối với thửa đất số713, tờ bản đồ số 5, diện tích 112,5m2 đất ở nông thôn, địa chỉ thửa đất tại thôn X1, xã P3, thành phố P1, tỉnh Bình Thuận.
2. Về án phí: Buộc Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Bình Thuận phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hành chính sơ thẩm.
Hoàn trả lại cho bà Phan Quỳnh U số tiền 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0000482 ngày 21/11/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bình Thuận.
3. Quyền kháng cáo: Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết theo quy định của Luật tố tụng Hành chính.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Bình Thuận; - Cục THADS tỉnh Bình Thuận; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Vũ Thị Thanh Hòa |