vanban.org

Bản án 55/2024/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh Tuyên án 19/03/2024 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

X phạt bị cáo Nguyễn Hữu V 15 (mư i lăm) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 17/11/2023. [2] Áp dụng Điều 47 c a B luật hình s và Điều 106 c a B luật tố tụng hình s ; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Hữu V phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm t i “Tr m cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? luật Tố tụng hình s; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị quyết số 97/2015/QH13 Về chất vấn và trả lời chất vấn t…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỦ CHI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TH NH H H CH M NH
Bản án số: 55 /2024/HS-ST
Ngày: 19/3/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỦ CHI TH NH H H CH MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hà Thị Xuân Lan.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà hạm Thị Ngọc

2. Bà Nguyễn hước Trinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Tâm – Thư ký Tòa án nhân dân huy n C Chi, Thành phố H Chí Minh.

- Đ i di n Vi n ki m sát nhân dân huy n C Chi, Thành ph Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Viết Hi p – Kiểm sát viên.

Ngày 19/3/2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huy n C Chi, Thành phố H Chí Minh t s th m công khai vụ án hình s thụ lý số: 47/2024/HSST, ngày 19 tháng 02 năm 2024, theo quyết định đưa vụ án ra t số: 49/2024/QĐXXST-HS ngày 04/3/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Hữu V; Sinh năm 1989; N i sinh: Tỉnh Đ; Giới tính: Nam; N i đăng ký h kh u thư ng tr : Ấp 5, ã X, huy n X, tỉnh Đ ng Nai; N i tạm tr : Đư ng số 17, ấp T, xã T, huy n C, Thành phố H Chí Minh; Trình đ học vấn: 03/12; Nghề nghi p: Thợ m c; Quốc tịch: Vi t Nam; Dân t c: Kinh; Tôn giáo: Không; Không ác định được họ tên cha; Họ tên mẹ: Ngô Thị H; Hoàn cảnh gia đình: Anh chị em ru t có 02 ngư i, kể cả bị cáo; Bị cáo có vợ đã ly hôn và có 01 con sinh năm 2016.

Tiền án, tiền s : Không.

Nhân thân: Năm 2009, bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đ ng Nai phạt 06 tháng 24 ngày tù và tuyên trả t do ngay tại phiên tòa về t i “tr m cắp tài sản”. Năm 2012, bị Tòa án nhân dân huy n C Chi, thành phố H Chí Minh phạt 02 năm tù về t i “tr m cắp tài sản”, chấp hành án đến ngày 24/9/2013 về địa phư ng.

Bị cáo bị bắt tạm giữ chuyển tạm giam từ ngày 17/11/2023 cho đến nay, hi n có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: 1/ Bà Trư ng Thị C m H, sinh năm 1989; Địa chỉ: Số 08, đư ng 414, ấp 3, ã , huy n C, Thành phố H Chí Minh; (vắng mặt). .

2/ Bà La Thị Kim N, sinh năm 1990; Địa chỉ: Số 08, đư ng 414, ấp 3, ã , huy n C, Thành phố H Chí Minh; (vắng mặt).

- Người làm chứng:

1/ Ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1989; Địa chỉ: Ấp 2 A, ã T, huy n C, Thành phố H Chí Minh; (có mặt).

2/ Ông Trần Trọng N, sinh năm 1985; Địa chỉ: Số 05, đư ng N, tổ 07, ấp B, xã T, huy n C, Thành phố H Chí Minh; (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài li u có trong h s vụ án và diễn biến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 gi 00 ph t, ngày 25/4/2022, Nguyễn Hữu V cùng với Nguyễn Văn D, Trần Trọng N đến quán karaoke Nhân Tài tại địa chỉ: Số 540C, đư ng Tỉnh l 8, tổ 1B, ấp 4, ã , huy n C, thành phố H Chí Minh nhậu, ca hát tại phòng số 02 và có các chị La Thị Kim N, Trư ng Thị C m H và Lý Thị Thu C là nhân viên c a quán đến phục vụ. Khoảng 16 gi 00 ph t cùng ngày, V nằm ng trên ghế sopha thì phát hi n 01 đi n thoại di đ ng hi u phone 8 lus c a H để trên nền gạch, V ng i dậy dùng tay trái l n l t lấy tr m đi n thoại c a H bỏ vào t i quần đang mặc r i tiếp tục uống bia. Sau đó, V lại nằm trên ghế sopha phát hi n 01 đi n thoại di đ ng hi u Samsung gala y J6 c a N để trên ghế gần vị trí đầu nằm, V dùng tay phải l n l t lấy tr m đi n thoại c a N bỏ vào t i quần bên phải phía trước. Sau khi lấy tr m được đi n thoại c a chị H và N thì V điều khiển e bỏ về trước, còn lại D và N cùng N và H ở lại tiếp tục nhậu và ca hát đến khoảng 16 gi 30 ph t cùng ngày thì chị H và chị N phát hi n bị mất 02 chiếc đi n thoại di đ ng nên trình báo s vi c đến Công an ã hước Vĩnh An, huy n C Chi lập h s

lý. Sau đó, D gọi đi n thoại cho V quay lại quán thì V điều khiển e quay lại và cất giấu 02 đi n thoại di đ ng vừa lấy tr m được ở khu đất trống thu c tổ 10, ấp 5, ã hước Vĩnh An, huy n C Chi r i đến quán thì bị Công an ã hước Vĩnh An, huy n C Chi m i làm vi c,

Tại c quan điều tra Nguyễn Hữu V thừa nhận hành vi phạm t i nêu trên và chỉ điểm n i cất giấu 02 đi n thoại vừa tr m nêu trên.

Trong quá trình điều tra bị can Nguyễn Hữu V bỏ trốn, C quan Cảnh sát điều tra ra quyết định truy nã đối với V. Ngày 17/11/2023,V bị bắt theo quyết định truy nã.

Vi c thu giữ, tạm giữ tài li u, đ vật:

- 01 đi n thoại di đ ng hi u phone 8 lus màu trắng h ng và 01 ốp lưng màu h ng (đã trả cho ch s hữu); 01 đi n thoại di đ ng Samsung Galary J6 màu đen bạc và 01 ốp lưng màu đen (đã trả cho ch s hữu); 01 e gắn máy hi u Yamaha Nouvo biển số 59 1-686.25; 01 đi n thoại di đ ng O O màu xanh.

Về dân s : Bị hại Trư ng Thị C m H và La Thị Kim N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm.

Tại bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình s số 98 ngày 27/06/2022 c a Ủy ban nhân dân huy n C Chi kết luận: 01 đi n thoại di đ ng hi u phone 8 lus màu trắng h ng đã qua s dụng có trị giá 5.000.000 đ ng; 01 đi n thoại di đ ng hi u Samsung Gala y J6 màu đen bạc đã qua s dụng có trị giá 1.200.000 đ ng. Tổng trị giá 6.200.000 đ ng.

Tại bản cáo trạng số 56/CT-VKS.CC ngày 19/02/2024 c a Vi n kiểm sát nhân dân huy n C Chi đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huy n C Chi để t

Nguyễn Hữu V về t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 c a B luật Hình s .

Tại phiên tòa, đại di n Vi n kiểm sát giữ quyền công tố luận t i: L i khai nhận t i c a bị cáo phù hợp với n i dung bản cáo trạng và các chứng cứ có tại h s . Bị cáo vì mong muốn có tiền tiêu ài mà đã có hành vi l n l t, lợi dụng s hở c a ch sở hữu thiếu cảnh giác để chiếm đoạt tài sản có giá trị tổng c ng là 6.200.000đ (sáu tri u hai trăm nghìn đ ng). Do đó, đã có đ c sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu V đã phạm t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 c a B luật Hình s .

Tại C quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành kh n khai báo và tỏ ra ăn năn hối cải, do đó đề nghị H i đ ng t áp dụng cho bị cáo hưởng tình tiết giảm nhẹ theo điểm s khoản 1 Điều 51 c a B luật Hình s ; Đề nghị H i đ ng t tuyên phạt bị cáo từ 01 (m t) năm đến 01 (m t) năm 06 (sáu) tháng tù.

- Về lý vật chứng:

Đối với 01 đi n thoại di đ ng hi u phone 8 lus màu trắng h ng và 01 ốp lưng màu h ng (đã trả cho ch s hữu); 01 đi n thoại di đ ng Samsung Galary J6 màu đen bạc và 01 ốp lưng màu đen (đã trả cho ch s hữu); đề nghị H i đ ng t

ghi nhận.

Đối với 01 e gắn máy hi u Yamaha Nouvo biển số 59 1-686.25; đề nghị tịch thu sung công quỹ; đối với 01 đi n thoại di đ ng O O màu xanh không liên quan hành vi phạm t i, đề nghị trả lại bị cáo.

- Về trách nhi m dân s : Bị hại Trư ng Thị C m H và La Thị Kim N đã nhận lại tài sản, không yêu cầu gì thêm; đề nghị H i đ ng t ghi nhận.

Tại phiên Toà, người làm chứng là ông D và ông N khai: Hai ông làm chung công ty với bị cáo V, vi c bị cáo th c hi n hành vi phạm t i hai ông hoàn toàn không biết, bị cáo không có bàn bạc hay có thoả thuận gì với hai ông. Khi bị hại phát hi n mất đi n thoại, ông D có tr c tiếp gọi đi n cho bị cáo để hỏi có lấy tài sản c a bị hại hay không nhưng bị cáo nói không có và quay lại quán Karaoke, sau đó thì công an m i cả 03 về làm vi c. Đến tối ngày 25/4/2022, tại trụ sở c quan công an thì bị cáo thừa nhận hành vi phạm t i và công an cho hai ông đi về.

Tại phiên toà bị cáo thừa nhận hành vi phạm t i như cáo trạng đã truy tố, bị cáo không tranh luận, không t bào chữa.

Bị cáo nói l i nói sau cùng là in h i đ ng t lượng hình giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo th c hi n hành vi vì b c phát, nhất th i chứ không có ý định trước đó, khi ông D gọi đi n hỏi bị cáo có lấy 02 đi n thoại không thì do mắc cỡ nên bị cáo nói không có lấy và đem 02 đi n thoại cất giấu, bị cáo hối hận về hành vi c a mình.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI Đ NG XÉT XỬ

Trên c sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài li u trong h s vụ án đã được th m tra, t hỏi, tranh luận tại phiên tòa, H i đ ng t nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng c a C quan điều tra Công an huy n C Chi, Điều tra viên, Vi n kiểm sát nhân dân huy n C Chi, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã th c hi n đ ng về th m quyền, trình t , th tục quy định c a B luật Tố tụng hình s . Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a C quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a C quan tiến hành tố tụng, ngư i tiến hành tố tụng đã th c hi n đều hợp pháp.

[2] Về t i danh và điều luật áp dụng

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận hành vi phạm t i đ ng như cáo trạng đã truy tố. L i khai nhận t i c a bị cáo phù hợp với các chứng cứ có tại h s :

Vào l c 16 gi 00 ph t ngày 25 tháng 04 năm 2022 tại quán Karaoke Nhân Tài, số 540C, đư ng Tỉnh L 8, ấp 4, ã hước Vĩnh An, huy n C Chi, Thành phố H Chí Minh; trong l c uống rượu và hát Karaoke chung; Nguyễn Hữu V đã lợi dụng s hở, thiếu cảnh giác c a ch sở hữu, l n l t chiếm đoạt 01 đi n thoại di đ ng Iphone 8 Plus màu trắng h ng c a chị Trư ng Thị C m H và 01 đi n thoại di đ ng Samsung Gala y J6 màu đen bạc c a chị La Thị Kim N.

Theo kết luận định giá c a H i đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình s đã kết luận tài sản bị chiếm đoạt có giá trị tổng c ng là 6.200.000 đ ng. Bằng hành vi trên, H i đ ng t có đ c sở kết luận bị cáo Nguyễn Hữu V đã phạm t i “Tr m cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 c a B luật Hình s .

[3] Về tính chất, mức đ hành vi phạm t i

Bị cáo nhận thức được vi c âm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp c a công dân bị pháp luật nghiêm cấm nhưng vì mục đích muốn chiếm hữu tài sản để có tiền tiêu ài mà bị cáo đã th c hi n hành vi phạm t i. Hành vi c a bị cáo là nguy hiểm cho ã h i đã âm phạm tr c tiếp quyền sở hữu tài sản hợp pháp c a công dân được pháp luật bảo v , gây mất trật t an ninh ã h i tại địa phư ng. Do đó, H i đ ng t nghĩ cần áp dụng hình phạt phù hợp nhằm răn đe, giáo dục bị cáo trở thành ngư i tốt cho ã h i và để bảo đảm đấu tranh phòng chống t i phạm nói chung. Tuy nhiên cần em t tính chất và mức đ nguy hiểm trong hành vi và nhân thân c a bị cáo để có mức hình phạt tư ng ứng.

[4] Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình s :

Tình tiết giảm nhẹ: Tại c quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành kh n khai báo, ăn năn hối cải; do đó, H i đ ng t áp dụng cho bị cáo tình tiết giảm nhẹ trách nhi m hình s theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 B luật Hình s .

Tình tiết tăng nặng: Không có tình tiết tăng nặng.

Nhân thân: Bị cáo có nhân thân ấu, vào năm 2009 và 2012 đã từng bị tuyên phạt về t i “T i cắp tài sản”.

[6] X t thấy bị cáo không có nghề nghi p nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều 173 B luật hình s .

[7] Về trách nhi m dân s và lý vật chứng

Về trách nhi m dân s : Bị hại Trư ng Thị C m H và La Thị Kim N đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì thêm; nên H i đ ng t ghi nhận.

Về vật chứng:

+ Đối với 01 đi n thoại di đ ng hi u phone 8 lus màu trắng h ng, 01 ốp

lưng màu h ng và 01 đi n thoại di đ ng Samsung Galary J6 màu đen bạc, 01 ốp lưng màu đen; đã trả lại cho bị hại; H i đ ng t nhận thấy là phù hợp.

+ Đối với 01 e gắn máy hi u Yamaha Nouvo biển số 59 1-686.25; qua xác minh do ông Trần Thế Q đứng tên ch sở hữu, hi n vẫn chưa làm vi c được với ch sở hữu là ông Q và C quan Cảnh sát Điều tra Công an huy n C Chi cũng đã thông báo truy tìm ch sở hữu nhưng đến nay chưa có kết quả; riêng bị cáo khai mua e này vào năm 2009 tại c a hàng bán e c , e có giấy t nhưng hi n bị cáo đã làm mất; bị cáo s dụng e này để th c hi n hành vi phạm t i; t thấy cần tịch thu sung cung quỹ nhà nước đối với e máy biển số trên là phù hợp.

+ Đối với 01 đi n thoại di đ ng O O màu xanh không liên quan hành vi phạm t i, t thấy cần trả lại bị cáo là phù hợp.

[8] Đối với Nguyễn Văn D và Trần Trọng N không bàn bạc, không tham gia và không biết s vi c bị cáo th c hi n hành vi phạm t i nên C quan cảnh sát điều tra không có căn cứ lý trách nhi m hình s đối với D và N; H i đ ng t

t thấy phù hợp.

[9] X t cần bu c bị cáo phải chịu án phí hình s s th m theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

[1] Tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu V phạm t i “Tr m cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 c a B luật Hình s năm 2015 (đã s a đổi bổ sung năm 2017);

X phạt bị cáo Nguyễn Hữu V 15 (mư i lăm) tháng tù. Th i hạn tù tính từ ngày 17/11/2023.

[2] Áp dụng Điều 47 c a B luật hình s và Điều 106 c a B luật tố tụng hình s ;

Tịch thu sung công quỹ nhà nước: 01 e mô tô biển số 59 1-686.25, số máy 5P11-131944, số khung: RLCN5 1109Y131944, nhãn hi u YAMAHA, màu trắng bạc đen, loại Nouvo;

Trả lại cho bị cáo: 01 đi n thoại di đ ng hi u O O màu anh đã qua s dụng.

(Các vật chứng nêu trên được li t kê theo l nh nhập kho vật chứng số 152/LNK-CSĐT-ĐTTH ngày 01/02/2024 và hiếu nhập kho vật chứng số 35/ NK-CSĐT-ĐTTH ngày 06/02/2024 c a C quan Cảnh sát điều tra Công an huy n C Chi).

[3] Áp dụng khoản 2 Điều 136 B luật Tố tụng hình s ; Áp dụng Luật phí và L phí số 97/2015/QH13 ngày 25/11/2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016

c a

Ủy

ban

Thư ng

vụ

Quốc

h i; Bu c bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đ ng) tiền án phí hình s s th m.

[4] Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án. Các bị hại vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ