- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị A.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 11/3/2024 V/v tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Ngọc Hạnh.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Hoa Kiều;
2. Bà Lê Thị Ngọc Ánh;
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên toà: Ông Ngô Thành Khánh Duy - Kiểm sát viên
Trong ngày 11 tháng 3 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 461/2023/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 10 năm 2023 về tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 11/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 02 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Hồ Thị A, sinh năm 1986 (có mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
2. Bị đơn: Anh Đỗ Minh B, sinh năm 1980 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp M, xã N, huyện X, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo Đơn khởi kiện và Bản tự khai, chị Hồ Thị A trình bày:
Chị và anh Đỗ Minh B tự nguyện tìm hiểu và kết hôn với nhau vào năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang theo Giấy chứng nhận kết hôn số 80, quyển số 01/2009 ngày 23/10/2009.
Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến cuối năm 2021 thì bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm, thường xuyên cãi nhau. Từ tháng 11/2022 đến nay, chị và anh B đã không còn sống chung, do tình cảm không còn, chị yêu cầu được ly hôn với anh Đỗ Minh B.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Minh C, sinh ngày 27/7/2007 và Đỗ Minh D, sinh ngày 08/8/2016 . Cháu Đỗ Minh C hiện đang sống cùng chị Hồ Thị A, cháu Đỗ Minh D hiện đang sống cùng anh Đỗ Minh B nên khi ly hôn, chị yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh C, giao cháu Đỗ Minh D cho anh Đỗ Minh B trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Quá trình tố tụng, anh Đỗ Minh B trình bày tại Bản tự khai:
Về hôn nhân: Anh và chị Hồ Thị A có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang. Anh trình bày anh chị không có mâu thuẫn gì lớn, nhưng cuối năm 2022, chị Hồ Thị A tự dọn ra ngoài ở trọ, không sống chung với anh, anh chị đã hàn gắn nhiều lần nhưng không thành. Nay anh vẫn còn thương vợ con nên anh không đồng ý với ly hôn chị Hồ Thị A.
Về con chung: Có 02 con chung tên Đỗ Minh C, sinh ngày 27/7/2007 và Đỗ Minh D, sinh ngày 08/8/2016. Hiện cháu Đỗ Minh D đang sống cùng anh và cháu Đỗ Minh C đang sống cùng chị Hồ Thị A. Trường hợp chị A cương quyết ly hôn thì anh Đỗ Minh B yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh D, giao cháu Đỗ Minh C cho chị Hồ Thị A tiếp tục nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung.
Về tài sản chung: Không có nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về nợ chung: Không có.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo tham gia phiên tòa có ý kiến phát biểu:
+ Về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử; Thư ký và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án đến trước khi xét xử Thẩm phán và Thư ký chấp hành đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã thực hiện đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về việc giải quyết vụ kiện: Căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, xét thấy việc chị Hồ Thị A và anh Đỗ Minh B có mâu thuẫn kéo dài từ năm 2021 không hàn gắn được, anh chị đã ly thân từ cuối năm 2022 cho đến nay nên việc chị Hồ Thị A yêu cầu ly hôn với anh Đỗ Minh B, yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh C, giao cháu Đỗ Minh D cho anh Đỗ Minh B trực tiếp nuôi dưỡng, không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung; về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết và nợ chung: không có, là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của chị Hồ Thị A.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Qua nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy:
Về Thẩm quyền giải quyết: Tranh chấp giữa các đương sự là tranh chấp “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo.
Về sự có mặt của đương sự: Toà án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng qui định, anh Đỗ Minh B có đơn xin vắng tại phiên họp kiểm tra việc nộp, tiếp cận công khai chứng cứ và hòa giải, xin vắng mặt tại phiên tòa nên Toà án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định.
Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị A và anh Đỗ Minh B là vợ chồng, được Ủy ban nhân dân xã N, huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang cấp giấy Giấy chứng nhận đăng ký kết hôn nên đây là hôn nhân hợp pháp.
Về thực trạng hôn nhân: Quá trình tố tụng, chị Hồ Thị A trình bày anh chị kết hôn tự nguyện và sống hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn trầm trọng do bất đồng quan điểm, không hàn gắn được. Anh chị ly thân từ cuối năm 2022 đến nay. Hiện tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên chị Hồ Thị A yêu cầu được ly hôn anh Đỗ Minh B.
Về các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, ý kiến trình bày, tranh luận của đương sự và căn cứ giải quyết vụ án: Quá trình tố tụng, anh Đỗ Minh B có bản tự khai ngày 11/01/2024, trình bày ý kiến mong muốn hàn gắn gia đình, không đồng ý ly hôn vì anh vẫn còn tình cảm với chị Hồ Thị A. Tuy nhiên, Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo đã tiến hành tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng theo đúng quy định nhưng anh B không đến và có đơn xin vắng mặt tại các phiên hòa giải. Tại phiên tòa hôm nay, anh cũng có đơn xin vắng mặt, thể hiện ý chí không muốn hàn gắn. Do đó, việc chị A yêu cầu ly hôn là có cơ sở chấp nhận.
- Về con chung: Anh chị trình bày thống nhất có 02 người con tên Đỗ Minh C, sinh ngày 27/7/2007 hiện đang sống cùng chị A và Đỗ Minh D, sinh ngày 08/8/2016 , hiện đang sống cùng anh B. Chị Hồ Thị A yêu cầu được nuôi dưỡng cháu Đỗ Minh C và giao cháu Đỗ Minh D cho anh B trực tiếp nuôi dưỡng, anh chị không cấp dưỡng nuôi con chung. Tại bản tự khai, anh B cũng thống nhất với với chị A về vấn đề con chung.
Xét yêu cầu của anh chị là phù hợp với thực tế, phù hợp với nguyện vọng của con chung, không trái với quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về tài sản chung: Chị A và anh B thống nhất trình bày không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
- Về nợ chung: Chị A và anh B thống nhất trình bày không có nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.
Các đương sự không còn ý kiến, yêu cầu nào khác.
Về Điều luật áp dụng: áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Nhận định ý kiến của Đại diện Viện kiểm sát: Tại Tòa, đại diện Viện Kiểm sát có ý kiến phát biểu về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký và những người tham gia tố tụng từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng Dân sự.
Về nội dung vụ án, Đại diện Viện kiểm sát có ý kiến phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về án phí: Chị Hồ Thị A phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo qui định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Xử: Chấp nhận yêu cầu của chị Hồ Thị A.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Chị Hồ Thị A được ly hôn với anh Đỗ Minh B.
2/ Về con chung: Giao con chung tên Đỗ Minh C, sinh ngày 27/7/2007 cho chị Hồ Thị A trực tiếp nuôi dưỡng; Giao con chung tên Đỗ Minh D, sinh ngày 08/8/2016 cho anh Đỗ Minh B trực tiếp nuôi dưỡng, anh Đỗ Minh B, chị Hồ Thị A không cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Đỗ Minh B, chị Hồ Thị A được quyền đến thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được quyền ngăn cản.
3/ Về tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4/ Về nợ chung: Không có.
5/ Về án phí: Chị Hồ Thị A phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng). Chị đã nộp 300.000 đồng theo biên lai 0026384 ngày 17/10/2023 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo, xem như đã nộp xong.
Chị Hồ Thị A có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày Toà tuyên án; anh Đỗ Minh B có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| * Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKSND huyện Chợ Gạo; - Chi cục THADS huyện Chợ Gạo; - Các đương sự; - UBND xã; - Löu hoà sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Trần Ngọc Hạnh |