- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thế Sang xin ly hôn với bà Phạm Ngọc Trúc"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thế S.
- Căn cứ chính? Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH AN GIANG Số: 55/2024/HNGĐ-ST Ngày: 01 – 7 - 2024. “Về tranh chấp ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRI TÔN – TỈNH AN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Huệ.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Mai Văn Tài;
2. Ông Chau Khon Sốc
- Thư ký phiên tòa: Ông Chau Chanh Đô Ra - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tri Tôn tham gia phiên tòa: Ông Chau Pholy – Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 7 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình sơ thẩm thụ lý số: 133/2024/TLST-HNGĐ, ngày 03 tháng 5 năm 2024 về: “Tranh chấp ly hôn”, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXX-HNGĐ ngày 03 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ông Nguyễn Thế S, sinh năm: 1994; địa chỉ cư trú: Số B, ấp A, xã H, huyện C, tỉnh An Giang.
Bị đơn: Bà Phạm Ngọc T, sinh năm: 1997; địa chỉ cư trú: Số H, ấp T, xã T, huyện T, tỉnh An Giang.
(Tại phiên tòa, ông S có mặt; bà T vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03/4/2024 với các tài liệu kèm theo cũng như quá trình tố tụng tại tòa, ông Nguyễn Thế S trình bày:
Về quan hệ hôn nhân: Quan hệ hôn nhân giữa ông với bà T được hình thành là do hai người tự tìm hiểu, được cha mẹ đứng ra tổ chức đám cưới vào năm 2017, hôn nhân có đăng ký kết hôn ngày 08/10/2020 tại UBND xã H, huyện C, tỉnh An Giang. Cuộc sống chung hạnh phúc được một thời gian ngắn thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do bất đồng quan điểm, bởi bà T không tôn trọng gia đình, thường xuyên kiếm chuyện gây cải với ông và đến tháng 4/2023 bà T bỏ chồng con về cha mẹ ruột sống và ly thân với ông cho đến nay. Trong thời gian ly thân gia đình có đứng ra hàn gắn nhưng không thành. Nay ông xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, ông xin ly hôn với bà T.
Về quan hệ con chung: Ông với bà T có 01 con chung tên Nguyễn Phạm Ngọc T1, sinh ngày 04/4/2021, hiện do ông nuôi. Khi ly hôn ông yêu cầu tiếp tục nuôi và không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
Về quan hệ tài sản chung: Ông với bà T không có tài sản chung,
Về quan hệ nợ chung: Ông với bà T không có nợ chung.
Tòa án đã thông báo hợp lệ cho bà Phạm Ngọc T để tham gia phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải, nhưng bà vẫn vắng mặt không lý do.
Tại phiên tòa, ông S bảo lưu ý kiến của mình. Riêng bà T đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai để tham dự phiên tòa nhưng bà vẫn vắng mặt.
Quan điểm của Kiểm sát viên:
Về tố tụng: Tòa án thụ lý giải quyết đúng theo trình tự thủ tục, xác định đúng quan hệ tranh chấp và thẩm quyền xét xử. Trong quá trình tiến hành tố tụng, Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử (HĐXX) đã tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, đương sự trong vụ án cũng đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình.
Về nội dung: Ông S – bà T chung sống có đăng ký kết hôn, nên được xem là hôn nhân hợp pháp. Quá trình chung sống bà T không tôn trọng gia đình, thường xuyên kiếm chuyện gây cải và ly thân …với ông S, gia đình có hàn gắn nhưng không thành, nên ông S xin ly hôn là có căn cứ. Về con chung: Cháu Nguyễn Phạm Ngọc T1 từ khi hai người ly thân đến nay là do ông S nuôi, nên đề nghị giao cháu T1 cho ông S tiếp tục nuôi; về tài sản chung, nợ chung không xem xét. Từ phân tích trên đề nghị HĐXX quyết định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, quan điểm của Kiểm sát viên. HĐXX nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Ông S khởi kiện ly hôn với bà T, là thuộc thẩm quyền của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; bà T có địa chỉ cư trú tại huyện T, nên căn cứ vào khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Tri Tôn thụ lý giải quyết đúng thẩm quyền. Bà T được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không lý do, nên HĐXX xét xử vắng mặt theo Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
. Về quan hệ hôn nhân: Ông S – bà T kết hôn và chung sống với nhau vào năm 1917, hôn nhân có đăng ký kết hôn theo giấy chứng nhận đăng ký kết hôn trễ hạn số 104 ngày 08/10/2020, nên xem là hôn nhân hợp pháp.
Tại phiên tòa, ông S bảo lưu ý kiến của mình, thể hiện do bà T không tôn trọng gia đình, thường xuyên kiếm chuyện gây cải với ông và bà T bỏ chồng con về cha mẹ ruột sống và ly thân với nhau từ hơn 01 năm nay, gia đình có hàn gắn nhưng không thành…
Qua trình bày của ông S, mặc dù bà T vắng mặt, nhưng tại biên bản xác minh vào ngày 31/5/2024 của Tòa án thể hiện: Hôn nhân giữa S – bà T là do tự tìm hiểu, nhưng quá trình chung sống thì S thường xuyên đánh đập T, nên T không thể tiếp tục chung sống với S mà phải bỏ về nhà cha mẹ và sau đó đi làm thuê ở P, tỉnh Kiên Giang. Với quan hệ là cha mẹ của T, ông bà có thường xuyên liên lạc với T thì xác định : K năng T với S hàn gắn lại là không thể…
Với chứng cứ thu thập vừa nêu, xét trình bày của ông S là có cơ sở, mâu thuẫn giữa ông S – bà T đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, HĐXX nghĩ nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của ông S.
. Về quan hệ con chung: Xét thấy cháu Nguyễn Phạm Ngọc T1, từ trước nay do ông S nuôi dưỡng, tình cảm giữa cháu T1 với ông S đã thật sự gắn bó, hiện cháu T1 được ông S gửi đi nhà trẻ … Do đó, để không xáo trộn về tâm sinh lý của cháu cũng như tạo điều kiện cho cháu T1 phát triển tốt về sau, HĐXX nghĩ nên chấp nhận giao cháu T1 cho bà S tiếp tục nuôi là hoàn toàn phù hợp.
HĐXX cũng giải thích cho ông S biết: Trong thời gian nuôi con, ông S cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà T trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con và theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Theo quy định của pháp luật, khi ly hôn bên không nuôi con phải có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con, nhưng tại Tòa ông S không yêu cầu, nên HĐXX công nhận sự tự nguyện.
Về quan hệ tài sản chung, nợ chung: Ông S khai ông với bà T không có tài sản chung và không có nợ chung. Tuy nhiên do bà T vắng mặt, nên HĐXX không xem xét và không đề cặp ở phần quyết định. Nếu sau này bà T có chứng cứ khác chứng minh có tài sản chung, có nợ chung và bà T có yêu cầu thì Tòa án sẽ xem xét thụ lý giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về án phí: Ông Nguyễn Thế S là nguyên đơn nên phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm; các bên không phải chịu án phí nào khác.
Vì các lẽ trên;
UY T ĐỊNH
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình; các Điều 144, 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn Thế S.
Về quan hệ hôn nhân: Ông Nguyễn Thế S được ly hôn với bà Phạm Ngọc T.
Về quan hệ con chung: Ông Nguyễn Thế S được tiếp tục nuôi cháu Nguyễn Phạm Ngọc T1, sinh ngày 04/4/2021,
Công nhận tự nguyện của ông S không yêu cầu bà T phải cấp dưỡng nuôi con.
Ông S cùng người thân trong gia đình không được cản trở bà TrúcUnHU2ng trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.
Về án phí: Ông Nguyễn Thế S phải chịu 300.000 đồng án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được chuyển từ 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0012399 ngày 03/4/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tri Tôn (ông S nộp đủ).
Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (01/7/2024), đương sự vắng mặt tại phiên tòa hoặc không có mặt khi tuyên án mà có lý do chính đáng thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.
(Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự).
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAT; - VKS huyện; - THADS để thi hành. - Các đương sự; - Lưu hồ sơ; - Vp. | Lê Văn Huệ |