vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Phủ Lý, tỉnh Hà Nam Tuyên án 23/05/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Xử phạt Trần Mạnh H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/5/2023). Giao bị cáo Trần Mạnh H cho Ủy ban nhân dân xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Luật Phí và lệ phí
THÀNH PHỐ PHỦ LÝ
TỈNH HÀ NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST.
Ngày 23 - 5 - 2023.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHỦ LÝ - TỈNH HÀ NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Xuyên.

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Huệ và ông Phạm Quang Man.

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thu Ngân - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2023/TLST-HS ngày 25 tháng 4 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 49/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 đối với bị cáo:

Trần Mạnh H, sinh năm 1993, tại Hà Nam; nơi cư trú: Thôn M, xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Đảng, đoàn thể: Đảng viên đảng cộng sản Việt Nam (đã bị đình chỉ sinh hoạt Đảng ngày 28/4/2023); con ông: Trần Đình Hvà bà Phạm Thị L; vợ: Phan Thị H, sinh năm 1995; con: Có 01 con sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 15/3/2023 đến ngày 21/3/2023 được tại ngoại tại địa phương theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú; hiện bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”; có mặt.

* Bị hại: Ông C, sinh năm 1976; Địa chỉ: Số 158, đường HT, quận NH, thành phố ĐB, Đài Loan.

Đại diện theo ủy quyền của bị hại: Anh Trần Quốc T, sinh năm 1990; nơi ĐKNKTT: Ấp 1 PX, quận NB, thành phố Hồ Chí Minh; địa chỉ: Thôn KH, xã TN, thị xã DT, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trần Mạnh H là nhân viên giặt là của khách sạn Melia VinPearl. Khoảng 15 giờ ngày 12/3/2013, H đi vào phòng 1202 của khách sạn để trả đồ giặt là. Quan sát phòng không có ai, két sắt để trong phòng mở hé, trong két sắt có 01 túi giấy màu nâu, H mở túi ra kiểm tra thì thấy có tiền ngoại tệ nên nảy sinh ý định lấy trộm, H rút ra 12 tờ tiền mệnh giá 50USD, 6 tờ tiền mệnh giá 20USD; 03 tờ tiền mệnh giá 1000 TWD; 01 tờ tiền mệnh giá 100TWD sau đó cất vào túi quần, còn lại H cất lại vào trong túi giấy và để lại vào két sắt. H đóng cửa két sắt lại, ấn mật khẩu két là: “0000” rồi trở về vị trí làm việc. Đến khoảng 16 giờ cùng ngày, H đem số ngoại tệ lấy trộm được mang về nhà cất giấu.

Khoảng 07 giờ 20 phút ngày 13/3/2023, ông C (là người Đài Loan nhập cảnh vào Việt Nam và đang thuê phòng 1202 khách sạn Melia VinPearl) lấy tiền trong két sắt phòng 1202 thì phát hiện két sắt đã đặt mật khẩu. Ông C nhờ nhân viên hỗ trợ mở két sắt ra, kiểm tra tài sản bên trong thì phát hiện bị mất trộm số tiền 720 USD và 3100 TWD.

Ngày 15/3/2023, Trần Mạnh H đến cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đầu thú.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- Thu giữ của Trần Mạnh H: 12 tờ tiền mệnh giá 50 USD, 6 tờ tiền mệnh giá 20 USD; 3 tờ tiền mệnh giá 1000 TWD, 01 tờ tiền mệnh giá 100 TWD và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen.

Khám xét khẩn cấp chỗ ở của Trần Mạnh H tại thôn M, xã TT, thành phố PL không thu giữ đồ vật, tài sản gì.

Tại văn bản trả lời số 188 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Hà Nam thể hiện: Tỷ giá trung tâm của VND với USD ngày 11/3/2013 là 23.639; ngày 13/3/2023 là 23.638; ngày 12/3/2023 Ngân hàng Nhà nước Việt Nam không công bố tỷ giá trung tâm; ngày 12/3/2023 tỷ giá tính chéo của đồng Việt Nam so với Đô la Đài Loan là 767,55.

Tại bản kết luận giám định số 148/KL-KTHS ngày 20/3/2023 của phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Hà Nam kết luận: 06 tờ Đô la Mỹ mệnh giá 20USD và 12 tờ Đô la Mỹ mệnh giá 50 USD gửi giám định là tiền thật; 01 tờ Tân Đài tệ mệnh giá 100 TWD và 03 tờ Tân Đài tệ mệnh giá 1000 TWD gửi giám định là tiền thật.

Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKS-PL ngày 25 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã truy tố Trần Mạnh H về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa: Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP Phủ Lý, tỉnh Hà Nam luận tội: Giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Trần Mạnh H theo toàn bộ nội dung bản cáo trạng, không có ý kiến bổ sung hoặc thay đổi gì đối với nội dung vụ án. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Trần Mạnh H mức án từ 12 đến 18 tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 24 đến 36 tháng, về tội “Trộm cắp tài sản”.

Bị cáo Trần Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình cơ bản như bản cáo trạng đã nêu, bị cáo không tranh luận, không bào chữa và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là bị hại và đại diện theo ủy quyền của bị hại vắng mặt tại phiên tòa nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đủ lời khai của họ được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Do vậy Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định của pháp luật.

Đánh giá về tội danh: Tại phiên toà bị cáo Trần Mạnh H đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cũng như các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án mà cơ quan điều tra đã thu thập được. Như vậy, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận: Khoảng 15 giờ 10 phút ngày 12/03/2023, tại phòng 1202 khách sạn Melia Vinpearl thuộc tổ 5, phường Minh Khai, thành phố Phủ Lý, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của ông C, Trần Mạnh H đã lén lút trộm cắp 720 đô la Mỹ (USD) và 3100 đô la Đài Loan (TWD) tương đương 19.398.765 đồng của ông C.

Hành vi của bị cáo Trần Mạnh H đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phủ Lý truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, phù hợp pháp luật.

Về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo thì thấy:

Về nhân thân: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đầu thú. Bị cáo đã trả lại tài sản và bồi thường khắc phục hậu quả cho bị hại. Đại diện theo ủy quyền của bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội, đồng thời thể hiện sự ăn năn hối cải của bản thân, nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào.

Đánh giá về hình phạt:

- Hình phạt chính: Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân, không những làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự an toàn xã hội trên địa bàn thành phố Phủ Lý mà còn làm giảm uy tín trong việc kinh doanh của khách sạn Melia Vinpearl, gây tâm lý hoang mang, lo lắng trong việc quản lý tài sản của khách hàng khi thuê phòng tại khách sạn Melia Vinpearl, đặc biệt gây dư luận xấu đối với khách ngoại quốc khi đến du lịch, làm việc tại thành phố Phủ Lý. Cần áp dụng hình phạt nghiêm để bị cáo vừa có thể nhìn nhận lại lỗi lầm của bản thân vừa có tác dụng giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành công dân tốt.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cũng như nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy không cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà cho bị cáo cải tạo tại địa phương dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ răn đe giáo dục và phòng ngừa chung trong xã hội như đề nghị của Đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.

- Về hình phạt bổ sung: Xét thấy không cần thiết phải áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Trần Mạnh H đã tự nguyện bồi thường số tiền 1.000.000đ cho ông C, ông C đã nhận tiền bồi thường và không có yêu cầu, đề nghị gì khác về phần dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Xử lý vật chứng:

- Đối với 12 tờ tiền mệnh giá 50 USD; 6 tờ tiền mệnh giá 20USD; 03 tờ tiền mệnh giá 1000TWD; 01 tờ tiền mệnh giá 100TWD. Quá trình điều tra xác định là tài sản hợp pháp của ông C. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại số tiền trên cho ông C nên Hội đồng xét xử không xem xét.

- Đối với 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Promax màu đen là tài sản hợp pháp của Trần Mạnh H, không liên quan đến vụ án. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã trả lại chiếc điện thoại trên cho H là phù hợp pháp luật.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại thực hiện quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên.

QUYẾT ĐỊNH

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 50; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.

- Căn cứ Điều 136; Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

- Căn cứ Luật Phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

[1] Tuyên bố bị cáo Trần Mạnh H phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

[2] Xử phạt Trần Mạnh H 15 (mười lăm) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 30 (ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (23/5/2023).

Giao bị cáo Trần Mạnh H cho Ủy ban nhân dân xã TT, thành phố PL, tỉnh Hà Nam giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ hai lần trở nên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

[3] Án phí hình sự sơ thẩm: Buộc bị cáo Trần Mạnh H phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng).

Án xử công khai sơ thẩm báo cho bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án.

Cỡ chữ