- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Quốc A - Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sun…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. 1.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự xử phạt; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự xử phạt
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HS-ST Ngày: 21/02/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Bình
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Nguyễn Thị Chi
Ông Phạm Văn Phước
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Dung – Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Huệ - Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 02 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 32/2022/TLST-HS ngày 12 tháng 01 năm 2023 theo hình thức trực tuyến, gồm 02 điểm cầu: Điểm cầu trung tâm đặt tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, điểm cầu thành phần đặt tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức; Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 38/2022/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 02 năm 2023 đối với bị cáo:
Lê Quốc A; Sinh năm 1996 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Địa chỉ: Tổ A, ấp B, xã C, huyện D, Thành phố E; Nghề nghiệp: Bảo vệ; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lê Văn L (Chết) và bà Bùi Thị T, sinh năm 1974; Chưa có vợ, con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Nhân thân: Quyết định số 340/QĐ-TA ngày 01/11/2017 của TAND huyện F, Thành phố E về Áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc 15 tháng; Chấp hành xong quyết định ngày 15/11/2018. Bị bắt tạm giam từ ngày 13 tháng 10 năm 2022. (Có mặt)
Bị hại:
Võ Minh T, sinh năm: 1983; Địa chỉ: Số A, đường B, phường C, thành phố D, Thành phố E. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào lúc 00 giờ 40 phút ngày 15/6/2022, anh Võ Minh T đang làm bảo vệ mục tiêu tại Cảng H, địa chỉ: Km A đường B, Khu phố 7, phường C, thành phố D, Thành phố E thì có Lê Quốc A làm bảo vệ chung với anh T vừa đi nhậu về và nhận ca gác. Lê Quốc A có cự cãi nhau với anh T về việc trước đó Lê Quốc A mượn xe mô tô của anh T sử dụng. Sau đó Lê Quốc A vào nhà xe và lấy từ trong tủ gỗ 01 cây kéo cán màu đen, dài khoảng 20cm đến chỗ anh T từ phía sau, sử dụng tay phải, cầm phần giữa của cây kéo đâm 02 nhát vào vùng lưng bên phải và 01 nhát vào vùng hông bên phải của anh T, rồi bỏ đi vào bên trong Cảng H để vứt kéo (không xác định được vị trí). Sau đó, Lê Quốc A vào bên trong nhà xe nằm ngủ. Anh T được nhân viên làm chung đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa khu vực Thủ Đức. Ngày 01/7/2022, Lê Quốc A viết giấy cam kết sẽ bồi thường thiệt hại cho anh T số tiền 30.000.000 đồng, mỗi tháng sẽ bồi thường cho anh T 10.000.000 đồng kể từ ngày 01/7/2022. Ngày 04/7/2022, Lê Quốc A đã bồi thường cho anh T số tiền là 7.000.000 đồng. Đến ngày 23/7/2022, do không thấy Lê Quốc A tiếp tục bồi thường thiệt hại nên anh Võ Minh T đến Công an phường Trường Thọ, thành phố Thủ Đức trình báo sự việc, có đơn yêu cầu giám định thương tích, xử lý hình sự đối với Lê Quốc A. Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 754/TgT.22 ngày 15/9/2022 của Trung tâm giám định pháp y, Sở Y tế Thành phố E kết luận: 1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương vùng lưng phải cạnh cột sống gây thủng đứt da, gãy xương sườn 10 bên phải, tràn khí máu màng phổi phải, đã được điều trị đặt dẫn lưu màng phổi khâu vết thương, hiện còn: + Một sẹo kích thước 2 x (0,3-0,4). + Một sẹo dẫn lưu vùng khoang liên sườn 6 đường nách giữa bên phải kích thước 2,5 x (0,1-0,3) + Hình ảnh gãy xương trên phim chụp, cắt lớp tinh vi. Có tỷ lệ 07%. Thương tích do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động gây ra.
- Hai vết thương phần mềm đã được điều trị, hiện còn: + Một sẹo vùng lưng trên phải kích thước 1x0,4cm. + Một sẹo vùng khoang liên sườn 6 đường nách sau bên phải 1,2 x 0,1cm. Có tỷ lệ 01% mỗi vết. Hai thương tích trên do vật sắc, vật sắc nhọn hoặc vật có cạnh sắc tác động gây ra.
2. Thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y tế quy định không quy định tỉ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần: Tỉ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là: 09%
3. Kết luận khác: Không
Vật chứng: 01 cây kéo cán màu đen, dài khoảng 20cm (chưa thu giữ được).
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Võ Minh T yêu cầu Lê Quốc A bồi thường 49.500.000 đồng trong đó: Chi phí tiền thuốc sau khi anh T xuất viện là 3.000.000 đồng (không có chứng từ hóa đơn); tiền nghỉ làm 03 tháng do điều trị vết thương 19.500.000 đồng; tiền không đi giao hàng được trong 03 tháng điều trị vết thương 12.000.000 đồng (không có hóa đơn chứng từ); tiền tổn thất tinh thần là 15.000.000 đồng. Lê Quốc A đã bồi thường 7.000.000 đồng, còn lại 42.500.000 đồng.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKS ngày 11/01/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức truy tố Lê Quốc A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: Giữ nguyên quyết định truy tố đối với Lê Quốc A về tội “Cố ý gây thương tích” và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các điểm i, s khoản 1 Điều 51, điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự xử phạt Lê Quốc A mức án từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù; Về xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật; Về bồi thường thiệt hại: Buộc Lê Quốc A bồi thường 42.500.000 đồng cho bị hại Võ Minh T.
Bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng; Bị cáo không có ý kiến tranh luận với luận tội của Kiểm sát viên và không tự bào chữa; Bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 42.500.000 đồng cho anh Võ Minh T; Bị cáo nói lời sau cùng biết lỗi của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Thủ Đức, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Quốc A khai nhận vào lúc 00 giờ 40 phút ngày 15/6/2022, Lê Quốc A đã thực hiện hành vi dùng 01 cây kéo đâm 02 nhát vào vùng lưng bên phải và 01 nhát vào hông bên phải của anh Võ Minh T gây thương tích 09% tại cảng H, Km A, đường B, khu phố C, phường E, thành phố F, Thành phố G. Xét thấy bị cáo là người có năng lực hành vi hình sự, đủ khả năng nhận thức được việc làm của mình, biết hành vi sử dụng vật sắc nhọn là hung khí nguy hiểm, đâm vào cơ thể người khác gây thương tích là vi phạm pháp luật, nhưng vì có sự mâu thuẫn mà bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. [3] Như vậy quyết định truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đối với bị cáo Lê Quốc A về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật. [4] Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác gây mất trật tự, an toàn xã hội cần phải xử lý nghiêm minh bị cáo trước pháp luật vì vậy cần có một mức án nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm giáo dục, cải tạo bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng, chống tội phạm nói chung. [5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng quy định tại các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự. [6] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có. [7] Về bồi thường thiệt hại: Bị hại Võ Minh T yêu cầu Lê Quốc A bồi thường 42.500.000 đồng; Bị cáo Lê Quốc A đồng ý bồi thường số tiền 42.500.000 đồng cho anh Võ Minh T nên Hội đồng xét xử ghi nhận. [8] Về xử lý vật chứng: 01 cây kéo cán màu đen, dài khoảng 20 cm không thu hồi được nên Hội đồng xét xử không xem xét xử lý. [9] Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.125.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Quốc A phạm tội “Cố ý gây thương tích”. 1. Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự xử phạt: Lê Quốc A 01 (Một) năm 03 (Ba) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 13/10/2022. 2. Áp dụng Điều 48 của Bộ luật Hình sự, Điều 589 của Bộ luật Dân sự: Buộc Lê Quốc A bồi thường cho anh Võ Minh T số tiền 42.500.000 (Bốn mươi hai triệu năm trăm nghìn) đồng. 3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Toà án, bị cáo Lê Quốc A phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 2.125.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm
4. Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.
5. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND Thành phố Hồ Chí Minh; - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh; - VKSND thành phố Thủ Đức; - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức; - Trại giam và bị cáo; - Bị hại; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (đã ký) Nguyễn Thái Bình |