- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Thanh P - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh P (Xô), Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số:55/2023/HS-ST Ngày:30-5-2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN HUYỆN C, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hồng Quyên
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Thành Trại
Bà Nguyễn Thị Mai Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Anh Thư-Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Trà My- Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 5 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2023/TLST-HS ngày 12 tháng 4 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 47/2023/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo:
1/ Họ và tên: Trần Thanh P (X), sinh năm 1993; tại tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký thường trú: A L, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang và chỗ ở hiện nay: 1 L, Phường E, thành phố M, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 7/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn L và bà Lê Ngọc S; Bị cáo có vợ Huỳnh Kim Q, sinh năm 1988, đã ly thân; có 01 con là Trần Gia B, sinh năm 2010; Ngày 05/01/2018, bị Tòa án nhân dân huyê ̣n Binh Chánh, thành phố Hồ Chi Minh áp du ̣ng biê ̣n pháp xử
̀
́ lý hành chinh đưa vào cơ sở cai nghiê ̣n bắt buô ̣c, trong thờ i ha ̣n 15 tháng ta ̣i Cơ sở
́ cai nghiện ma túy P4, về hành vi “Sử du ̣ng trái phép chất ma túy” theo Quyết đi ̣nh số 27/QĐ-TA. Chấp hành xong ngày 05/01/2020. Tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 15/12/2022, tạm giam từ ngày 24/12/2022; Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Họ và tên: Nguyễn Văn C, sinh năm 1991; tại tỉnh Tiền Giang. Nơi đăng ký thường trú và chỗ ở hiện nay: Ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Nguyễn Thị D; Bị cáo chưa có vợ con; Ngày 07/10/2019, bị Tòa án nhân dân huyê ̣n Châu Thành, tinh̉ Tiền Giang xử phạt 03 (ba) tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo Bản án số 96/2019/HS-ST. Chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/12/2019, chấp hành xong án phí ngày 03/12/2019, đã xóa án tích. Tiền sự: 01, ngày 31/12/2017 bi ̣ Công an huyện T, tinh Tiền Giang ra quyết đi ̣̉
nh xử pha ̣t vi pha ̣m hành chinh về hành vi
́ “Đánh ngườ i thi hành công vu ̣” vớ i số tiền 4.000.000 đồng, theo Quyết đi ̣nh số 10/QĐ-XPVPHC, bi ̣ can chưa nô ̣p pha ̣t. Tiền án: không. Bị cáo tại ngoại. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Phạm Ngọc L1, sinh năm 1972 (có mặt);
Địa chỉ: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1/ Anh Võ Quang P1, sinh năm 1976 (vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ E, Khóm E, Phường A, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp.
Chỗ ở: Nhà trọ 999, ấp Đ, Phường Đ, Thị xã B, tỉnh Vĩnh Long.
2/ Anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1985 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.
3/ Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1968 (có mặt);
Địa chỉ: ấp D, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người làm chứng:
1/ Anh Nguyễn Văn P2, sinh năm 1978 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp L, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
2/ Anh Nguyễn Phúc T, sinh năm 1981 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp N, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
3/ Anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1998 (vắng mặt);
Địa chỉ: ấp Mỹ Trinh A, xã Hậu Mỹ Trinh, huyện Cái Bè, tỉnh Tiền Giang.
Chỗ ở: Tổ 7, khu phố 4, Phường 10, Thành phố Mỹ Tho, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 13/12/2022, Trần Thanh P điều khiển xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008 chở Nguyễn Văn C đi trộm cắp tài sản, khi đến nhà của anh Phạm Ngọc L1, sinh năm 1972, nơi thường trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, P dùng điê ̣n thoa ̣i Nokia màu đỏ mở đèn pin đưa cho C bướ c qua hàng rào lướ i B40 vào trong nhà anh L1. C ro ̣i đèn nhìn thấy trong nhà có 01 tủ thờ bằng gỗ, 01 ghế bố gỗ và 01 bàn máy may có chân bằng sắt. C lần lượt khiêng bàn máy may, ghế bố chuyền ra ngoài để trên xe 61N2-8008, ngồi sau ôm cho P chở đi cất giấu ở bai đẫ
́t trống dướ i chân Cầu R. Sau đó, P điều khiển xe 61N2-8008 chở C quay la ̣i nhà anh L1 khiêng tủ thờ bằng gỗ ra ngoài. Do tủ nă ̣ng không chở được bằng xe mô tô được nên P chạy đi tìm và thuê xe ô tô tải biển số 51D-331.44 do anh Võ Quang P1, sinh năm 1976, nơi thườ ng trú: Khóm E, Phường A, Thành phố C, tỉnh Đồng Tháp điều khiển và anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1985, nơi thườ ng trú: ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là phu ̣ xe đến chở tủ. P và anh P1 vào khiêng tủ thờ ra ngoài xe, còn C khiêng chân tủ bi ̣ rơi la ̣i. Sau khi đưa tủ lên xe ô tô tải thì P điều khiển xe 61N2-8008 chở C cha ̣y trướ c dẫn đường, anh P1 điều khiển xe tải cha ̣y theo sau, P dẫn đường cho anh P1 chạy đến bai đẫ ́t trống dướ i chân Cầu R để lấy bàn máy may, ghế bố đa cẫ ́t giấu trướ c đó rồi kêu anh P1 chở đến để ta ̣i khu vực Bến Đỗ gần Nga ba T. Đến sã
́ng ngày 14/12/2022, P kêu xe ba gác chở số tài sản trên đến nhà tro ̣ Lê Thị Bích P3 tại khu phố D, Phường A, Thành phố M, tỉnh Tiền Giang do anh Nguyễn Thanh T1, sinh năm 1998 quản lý rồi cất giấu vào mô ̣t phòng trống không có ngườ i ở . P kêu C ở la ̣i giữ tài sản, do không có tiền trả tiền thuê xe ba gác nên C đem bàn máy may bán cho vựa thu mua phế liê ̣u thuô ̣c ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang do anh Lai Văn T2, sinh năm 1970, nơi thườ ng trú: ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang làm chủ được số tiền 120.000 đồng, C trả tiền xe 60.000 đồng, số còn lại C tiêu xài cá nhân hết. Đến khoảng 13 giờ 35 phút cùng ngày anh Nguyễn Thanh T1 đến kiểm tra phòng trọ nhìn thấy số tài sản trên nghi ngờ là tài sản trộm nên trình báo Công an phường A, thành phố M, tỉnh Tiền Giang đến kiểm tra, phát hiê ̣n thu giữ số tài sản trên.
Tại biên bản khám nghiệm hiện trường vào lúc 16 giờ 05 phút ngày 14 tháng 12 năm 2022 ghi nhận: Hiê ̣n trườ ng nơi xảy ra vu ̣ trô ̣m cắp tài sản ta ̣i căn nhà để trống của anh Phạm Ngọc L1 tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang được xác đi ̣nh: Hướ ng Đông giáp vớ i đường K, hướ ng Nam giáp vớ i nhà Trần Quang T3. Nhà được xây dựng bằng vách gỗ, mái tole, nền ga ̣ch, quay mặt về hướng Đông, xung quanh nhà được bao bọc bằng hàng rào lưới kim loại B40, nhà đã bị hư hỏng các phần vách ngăn xung quanh. Từ giữa cửa ra vào của nhà đi thẳng về hướng Tây 1,01 m kiểm tra tại khu vực này trên nền gạch bên trong căn nhà không phát hiện dấu vết gì, ký hiệu là (1) đây là khu vực để bàn máy may có chân bằng kim loại bị mất. Từ (1) đi về hướng T 2,65m ký hiệu là (2) là khu vực anh để tủ thờ bằng gỗ. Từ (2) đi về hướng Tây Nam 2,05 m ký hiệu là (3) là khu vực để ghế bố bằng gỗ bị mất. Tiến hành kiểm tra diện rộng ghi nhận hàng rào lưới B40 kim loại phía trước nhà ký hiệu là (4) bi ̣ cong vênh, biến dạng, trụ bê tông bị gãy ngã về hướng Tây, hàng rào lưới kim loại cũng bị cong vênh ngã về hướng T, ngoài ra không ghi nhâ ̣n gi thêm.
̀
Vật chứng, đồ vật thu giữ:
- 01 (mô ̣t) tủ gỗ, loa ̣i tủ thờ có cẩn hoa văn, có chiều cao 1,6m, chiều ngang 0,5m, chiều dài 1,2m.
- 01 (mô ̣t) ghế bố gỗ có chiều cao 1,1m, chiều ngang 0,75m, chiều dài 1,1m, phần lưng tựa bi ̣ đứ t rơi xuống, có dấu mất mô ̣t thanh gỗ giữa
- 01 (mô ̣t) miếng gỗ có kich thướ c ngang 0,5m, rô ̣ng 0,35m, dày 02cm, đa cũ ̃
́
- 01 (mô ̣t) miếng gỗ có lỗ trống ở giữa, mô ̣t đầu có hô ̣c gỗ cao 10cm, kich
́ thướ c ngang 0,9m, rô ̣ng 0,4m, dày 02cm, đa cũ ̃.
- 01 (mô ̣t) bàn máy may khung bằng kim loa ̣i, thùng bằng gỗ, không có bô ̣ phâ ̣n máy, đa hư cũ
̃, không xác đi ̣nh đă ̣c điểm (Nguyễn Văn C khai bán cho vựa phế liệu tại ấp L, xã P, thành phố M, tỉnh Tiền Giang do anh Lai Văn T2 làm chủ. Qua làm việc anh T2 không xác định có mua hay không nên không thu hồi được).
- 01 (mô ̣t) xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008, kiểm tra thực tế, ghi nhâ ̣n số máy: không có, số khung: LCL44S70AY017940.
- 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 10 phút 30 giây (bắt đầu 21 giờ 28 phút 03 giây đến 21 giờ 38 phút 33 giây ngày 13/12/2022 trên màn ảnh camera, thờ i gian cài đă ̣t camera châ ̣m hơn thực tế là 20 phút) được trich xuất từ camera an ninh ta ̣i
́ Cửa hàng V tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
- 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 07 phút 29 giây (bắt đầu 21 giờ 37 phút 58 giây đến 21 giờ 45 phút 27 giây ngày 13/12/2022) được trich xuất camera an ninh
́ ta ̣i Cử a hàng xăng dầu C tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
Tại bản kết luận định giá tài sản số 237/KL-HĐĐG ngày 16/12/2022 của Hô ̣i đồng đi ̣nh giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C kết luận:
- Giá tri ̣ của 01 tủ gỗ loa ̣i tủ thờ có cẩn hoa văn, có chiều cao 1,6m, chiều ngang 0,5m, chiều dài 1,2m, gồm nhiều loa ̣i gỗ thuô ̣c nhóm hai, đa cũ ̃ là 3.000.000 đồng.
- Giá tri ̣ của mô ̣t ghế bố gỗ có chiều cao 1,1m, chiều ngang 0,75m, chiều dài 1,1m, phần lưng tựa bi ̣ đứ t rơi xuống, có dấu mất mô ̣t thanh gỗ giữa, loa ̣i gỗ căm xe, đa cũ ̃ là 1.500.000 đồng.
- 01 (mô ̣t) miếng gỗ có kich thướ c ngang 0,5m, rô ̣ng 0,35m, dày 02cm, đa cũ ̃,
́ không có cơ sở xác định được giá tri ̣.
- 01 (mô ̣t) miếng gỗ có lỗ trống ở giữa, mô ̣t đầu có hô ̣c gỗ cao 10cm, kich
́ thướ c ngang 0,9m, rô ̣ng 0,4m, dày 02cm, đa cũ ̃, không có cơ sở xác định được giá tri ̣.
- 01 (mô ̣t) bàn máy may khung bằng kim loa ̣i, thùng bằng gỗ, không có bô ̣ phâ ̣n máy, đa hư cũ
̃, không xác đi ̣nh đă ̣c điểm, không có cơ sở xác đi ̣nh được giá tri ̣.
Như vậy, Tổng tài sản bị chiếm đoạt có giá tri ̣ là 4.500.000 đồng (bốn triê ̣u năm trăm nghin đồng).
̀
Tại bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh pháp y tâm thần số 129/KL-VPYTW ngày 28/02/2023 của V1 đối với Nguyễn Văn C:
- Về y ho ̣c: Trướ c, trong, sau khi gây á n và hiê ̣n nay: Đương sự bi ̣ bê ̣nh Rố i loa ̣n nhân cá ch cả m xú c không ổn đi ̣nh (F60.3-ICD.10).
- Về khả năng nhâ ̣n thứ c và điều khiển hành vi: Tại thờ i điểm gây á n và hiê ̣n nay: Đương sự đủ khả năng nhâ ̣n thứ c và điều khiển hành vi để làm viê ̣c vớ i cơ quan pháp luâ ̣t.
Xử lý vật chứng:
- 01 tủ gỗ loa ̣i tủ thờ có cần hoa văn, có chiều cao 1,6m, chiều ngang 0,5m, chiều dài 1,2m; 01 ghế bố gỗ có chiều cao 1,1m, chiều ngang 0,75m, chiều dài 1,1m, phần lưng tựa bi ̣ đứ t rơi xuống, có dấu mất mô ̣t thanh gỗ giữa; 01 miếng gỗ có kich thướ c ngang 0,5m, rô ̣ng 0,35m, dày 02cm; 01 (mô ̣t) miếng gỗ có lỗ trống ở
́ giữa, mô ̣t đầu có hô ̣c gỗ cao 10cm, kich thướ c ngang 0,9m, rô ̣ng 0,4m, dày 02cm.
́
Đây là những tài sản thuộc sở hữu hợp pháp của anh Phạm Ngọc L1 nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang đa trao trã
̉ cho anh L1 xong.
- Đối với xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008, Trần Thanh P khai do ba ̣n gái tên thườ ng go ̣i là T4 (không rõ họ tên cụ thể) ở Hẻm A, đường L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang nhờ sử a chữa. Qua xác minh, ta ̣i đi ̣a chỉ trên không có ngườ i nào tên T4 nên không làm viê ̣c được. Tại bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 83/KL-KTHS (Đ2) ngày 02/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luâ ̣n đối với xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008 như sau:
+ Số khung: trướ c giám đi ̣nh: bi ̣ đu ̣c xóa. Sau giám đi ̣nh: RLCL 44S10AY017940.
+ Số máy: trướ c giám đi ̣nh: bi ̣ mài mòn. Sau giám đi ̣nh: số nguyên thủy bi ̣ mài mòn, không đo ̣c được.
+ Đối với số khung RLCL 44S10AY017940 qua tra cứ u xác đi ̣nh xe có biển số đăng ký xe là 61C1-051.97, do Trần Công T5, đi ̣a chỉ: 6 B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, số khung: RLCL 44S10AY017940, số máy: 44S1-017935, nhan hiê ̣̃
u YAMAHA, số loa ̣i LUVIAS đứ ng tên chủ sở hữu, tuy nhiên xe biển số 61C1-051.97 không có dữ liê ̣u đăng ký. Hiê ̣n Trần Công T5 đa bã ́n nhà đi nơi khác, không rõ đi ̣a chỉ cu ̣ thể nên chưa làm viê ̣c được.
+ Đối với biển số xe 61N2-8008, qua tra cứ u do bà Bành Thị N, đi ̣a chi: Khủ C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, xe biển số 61N2-8008 có số khung: 038638, số máy: 038638, hiê ̣n chưa làm viê ̣c được vớ i bà N.
Do xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008 chưa xác định chủ sở hữu, số máy, số khung có biểu hiê ̣n bi ̣ tẩy xóa, bào mòn nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ, để điều tra xử lý sau.
Về trách nhiệm dân sự: anh Phạm Ngọc L1 đa nhâ ̣̃
n la ̣i tài sản bị chiếm đoạt xong, không có yêu cầu gi khác.
̀
Quá trình điều tra, Trần Thanh P, Nguyễn Văn C đã thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội như đã nêu trên, lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai bị hại, vật chứng và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Bản cáo trạng số 52/CT-VKSCT ngày 08 tháng 4 năm 2023 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Tiền Giang đã truy tố bị cáo Trần Thanh P, Nguyễn Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh P, Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 173; Điều 38; Điều 50; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị: Xử phạt bị cáo Trần Thanh P từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 15/12/2022.
Về trách nhiệm dân sự: bị hại đã nhận lại đủ tài sản, tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo P phải khắc phục hậu quả là trả chi phí vận chuyển các tài sản bị trộm về nhà bị hại là 400.000đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật. Bị cáo P tự nguyện đồng ý khắc phục hậu quả trả cho bị hại số tiền 400.000đồng.
Căn cứ: - Khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đề nghị: Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ bắt bị cáo chấp hành án.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: - 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 10 phút 30 giây (bắt đầu 21 giờ 28 phút 03 giây đến 21 giờ 38 phút 33 giây ngày 13/12/2022 trên màn ảnh camera, thờ i gian cài đă ̣t camera châ ̣m hơn thực tế là 20 phút) được trich xuất từ camera an
́ ninh ta ̣i Cửa hàng V tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
- 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 07 phút 29 giây (bắt đầu 21 giờ 37 phút 58 giây đến 21 giờ 45 phút 27 giây ngày 13/12/2022) được trich xuất camera an ninh
́ ta ̣i Cử a hàng xăng dầu C tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
Về án phí: Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm, bị cáo P phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thanh P tự bào chữa: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện C, truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện.
Bị cáo Nguyễn Văn C tự bào chữa: Bị cáo thống nhất với bản cáo trạng và luận tội của đại diện Viện kiểm sát huyện C, truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”, bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như cáo trạng và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ đã thể hiện.
Ý kiến của người bị hại về hành vi phạm tội của bị cáo: đề nghị Hội đồng xét xử đúng quy định pháp luật, về dân sự yêu cầu khắc phục hậu quả là chi phí vận chuyển các tài sản bị trộm về nhà bị hại là 400.000đồng, thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Trong lời nói sau cùng, các bị cáo nhận thấy mình có lỗi, biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, các bị cáo hứa sẽ không tái phạm và xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo mức thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng:
Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện điều hợp pháp.
Bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt. Hội đồng xét xử xét thấy việc vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không ảnh hưởng đến việc xét xử và vẫn đảm bảo quyền lợi hợp pháp của họ. Vì vậy, Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 292 của Bộ luật tố tụng hình sự, xét xử vắng mặt bị hại và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.
Về hành vi phạm tội của các bị cáo:
Quá trình điều tra, truy tố và ta ̣i phiên tòa hôm nay, các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố. Bị cáo xác định: Khoảng 21 giờ ngày 13/12/2022, ta ̣i ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang, bị cáo Trần Thanh P và bị cáo Nguyễn Văn C có hành vi lén lút lấy trô ̣m 01 tủ gỗ loa ̣i tủ thờ có cẩn hoa văn, có chiều cao 1,6m, chiều ngang 0,5m, chiều dài 1,2m; 01 ghế bố gỗ có chiều cao 1,1m, chiều ngang 0,75m, chiều dài 1,1m, phần lưng tựa bi ̣ đứ t rơi xuống, có dấu mất mô ̣t thanh gỗ giữa; 01 miếng gỗ có kich
́ thướ c ngang 0,5m, rô ̣ng 0,35m, dày 02cm; 01 (mô ̣t) miếng gỗ có lỗ trống ở giữa, mô ̣t đầu có hô ̣c gỗ cao 10cm, kich thướ c ngang 0,9m, rô ̣ng 0,4m, dày 02cm và 01
́ (mô ̣t) bàn máy may khung bằng kim loa ̣i, thùng bằng gỗ, đa hư cũ
̃ của anh Phạm Ngọc L1. Tổng giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 4.500.000 đồng (Bốn triê ̣u năm trăm nghin đồng) nên P và C phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “Trộm cắp tài sản”.
̀ Đây là vụ án đồng phạm giản đơn, P và C cùng rủ nhau đi trộm cắp tài sản và cùng nhau trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội.
Lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, vật chứng được thu giữ và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận các bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố các bị cáo về tội danh và điều khoản nêu trên là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3Xét tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo:
Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Các bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện, hành vi này không chỉ gây thiệt hại về mặt vật chất và tinh thần đối với người bị hại mà còn làm mất an ninh trật tự, gây hoang mang cho người dân sinh sống tại địa phương, bị cáo trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của bị hại, bản thân lại có nhân thân xấu, bị cáo là người rủ rê bị cáo C thực hiện hành vi phạm tội nên có mức hình phạt cao hơn và mức án thật nghiêm khắc mới có tác dụng răn đe và giáo dục các bị cáo có ý thức tôn trọng pháp luật và răn đe phòng ngừa chung cho xã hội.
Về tình tiết giảm nhẹ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo P thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, tự nguyện khắc phục hậu quả, bị cáo là lao động chính và đang nuôi con nhỏ. Do đó, bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Đối với bị cáo C là đồng phạm với vai trò người thực hành, trực tiếp cùng bị cáo P lấy trộm, và mang đi cất giấu, bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, bị cáo có nhân thân xấu, có 01 tiền sự, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo bị bệnh rối loạn nhân cách cảm xúc không ổn định (F60.3-ICD.10). Do đó, bị cáo được hưởng những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ tài sản nên không yêu cầu bổi thường, tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo P khắc phục hậu quả là số tiền thuê vận chuyển tài sản về nhà bị hại là 400.000đồng, bị cáo P tự nguyện đồng ý nên cần ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Vật chứng, đồ vật được tạm giữ, xử lý như sau
- Đối với xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008, Trần Thanh P khai do ba ̣n gái tên thườ ng go ̣i là T4 (không rõ họ tên cụ thể) ở Hẻm A, đường L, Phường F, thành phố M, tỉnh Tiền Giang nhờ sử a chữa. Qua xác minh, ta ̣i đi ̣a chỉ trên không có ngườ i nào tên T4 nên không làm viê ̣c được. Tại bản kết luâ ̣n giám đi ̣nh số 83/KL-KTHS (Đ2) ngày 02/02/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luâ ̣n đối với xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008 như sau:
+ Số khung: trướ c giám đi ̣nh: bi ̣ đu ̣c xóa. Sau giám đi ̣nh: RLCL 44S10AY017940.
+ Số máy: trướ c giám đi ̣nh: bi ̣ mài mòn. Sau giám đi ̣nh: số nguyên thủy bi ̣ mài mòn, không đo ̣c được.
+ Đối với số khung RLCL 44S10AY017940 qua tra cứ u xác đi ̣nh xe có biển số đăng ký xe là 61C1-051.97, do Trần Công T5, đi ̣a chỉ: 6 B, phường A, thành phố D, tỉnh Bình Dương, số khung: RLCL 44S10AY017940, số máy: 44S1-017935, nhan hiê ̣̃
u YAMAHA, số loa ̣i LUVIAS đứ ng tên chủ sở hữu, tuy nhiên xe biển số 61C1-051.97 không có dữ liê ̣u đăng ký. Hiê ̣n Trần Công T5 đa bã ́n nhà đi nơi khác, không rõ đi ̣a chỉ cu ̣ thể nên chưa làm viê ̣c được.
+ Đối với biển số xe 61N2-8008, qua tra cứ u do bà Bành Thị N, đi ̣a chi: Khủ C, phường L, thành phố T, tỉnh Bình Dương đứng tên chủ sở hữu, xe biển số 61N2-8008 có số khung: 038638, số máy: 038638, hiê ̣n chưa làm viê ̣c được vớ i bà N.
Do xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008 chưa xác định chủ sở hữu, số máy, số khung có biểu hiê ̣n bi ̣ tẩy xóa, bào mòn nên giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ, để điều tra xử lý sau theo quy định pháp luật.
Đối với:
- 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 10 phút 30 giây (bắt đầu 21 giờ 28 phút 03 giây đến 21 giờ 38 phút 33 giây ngày 13/12/2022 trên màn ảnh camera, thờ i gian cài đă ̣t camera châ ̣m hơn thực tế là 20 phút) được trich xuất từ camera an ninh ta ̣i
́ Cửa hàng V to ̣a la ̣c ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
- 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 07 phút 29 giây (bắt đầu 21 giờ 37 phút 58 giây đến 21 giờ 45 phút 27 giây ngày 13/12/2022) được trich xuất camera an ninh
́ ta ̣i Cử a hàng xăng dầu C tọa lạc ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
Về án phí: Mỗi bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và bị cáo P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Đối với anh Võ Quang P1, sinh năm 1976, nơi thườ ng trú: Khóm E, Phường A, thành phố C, tỉnh Đồng Tháp và anh Nguyễn Thành K, sinh năm 1985, nơi thườ ng trú: ấp K, xã L, huyện T, tỉnh Vĩnh Long là tài xế và phu ̣ xe ô tô tải tải biển số 51D-331.44 được P thuê chở tủ, ghế và bàn máy may, cả hai không biết tài sản trên do P và C trô ̣m cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang không xem xét trách nhiê ̣m hinh sự là có căn cứ.
̀
Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận. Về mức hình phạt: Viện kiểm sát đề nghị mức án từ 01 năm 03 tháng đến 01 năm 09 tháng tù đối với bị cáo C là nặng so với mức độ hành vi phạm tội của bị cáo.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Trần Thanh P (Xô), Nguyễn Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Về hình phạt:
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50; điểm b, i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Trần Thanh P (Xô) 01 (Một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày tạm giữ 15/12/2022.
Căn cứ:
- Khoản 1 Điều 173, Điều 38, Điều 50; điểm s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn C 09 (Chín) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
2. Về dân sự: Căn cứ Điều 589 Bộ luật dân sự
Buộc bị cáo Trần Thanh P (X) có trách nhiệm trả cho anh Phạm Ngọc L1 số tiền 400.000đồng. Thực hiện khi án có hiệu lực pháp luật.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án, nếu bị cáo Phú chậm thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 357 Bộ luật Dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.
3. Về xử lý vật chứng:
Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Giao xe mô tô hai bánh hiê ̣u Luvias màu đen, biển số 61N2-8008 cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Tiền Giang tiếp tục tạm giữ, để điều tra xử lý sau.
- 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 10 phút 30 giây (bắt đầu 21 giờ 28 phút 03 giây đến 21 giờ 38 phút 33 giây ngày 13/12/2022 trên màn ảnh camera, thờ i gian cài đă ̣t camera châ ̣m hơn thực tế là 20 phút) được trich xuất từ camera an ninh ta ̣i
́ Cửa hàng V tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
- 01 (mô ̣t) đoa ̣n camera thờ i lượng 07 phút 29 giây (bắt đầu 21 giờ 37 phút 58 giây đến 21 giờ 45 phút 27 giây ngày 13/12/2022) được trich xuất camera an ninh
́ ta ̣i Cử a hàng xăng dầu C tại ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Tiền Giang (kèm theo hồ sơ vu ̣ án).
4. Về án phí:
Căn cứ: khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Mỗi bị cáo Trần Thanh P, Nguyễn Văn C phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trần Thanh P phải chịu 300.000đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt thì thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Trường hợp bản án được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Tiền Giang; - VKS ND huyện C; - VKS ND tỉnh Tiền Giang; - Chi cục Thi hành án dân sự h. C; - Cơ quan Thi hành án hình sự h. C; - Người tham gia tố tụng; - Lưu: AV, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Thị Hồng Quyên |