vanban.org

Bản án 55/2023/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Châu Phú, tỉnh An Giang Tuyên án 17/11/2023 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Trần Hữu Th: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 16 (Mười sáu) tháng 8 (Tám) năm 2023 (Hai không hai ba). Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Hữu Th. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trần Hữu Thiện - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU PHÚ
TỈNH AN GIANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HS-ST
Ngày 17 tháng 11 năm 2023

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU PHÚ, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Linh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Khắc Chung - Ông Mai Minh Chánh.

- Thư ký phiên tòa: Bà Ngô Thái Trân - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú tham gia phiên tòa: Ông Huỳnh Hoàng Vũ - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Phú, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 59/2023/TLST-HS ngày 19 tháng 10 năm 2023, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 11 năm 2023, đối với bị cáo:

Trần Hữu Th, sinh năm 1999; nơi sinh: Huyện CP, tỉnh AG; nơi cư trú: Ấp MP, xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: Không biết chữ; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Đạo phật; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Hữu C, sinh năm 1982 và bà Nguyễn Thị L, sinh năm 1980; bị cáo có vợ tên Phạm Thị Tố N, sinh năm 2004 và có 01 con tên Trần Phạm Anh Th, sinh năm 2021; tiền án: Không;

Tiền sự: 01 lần. Ngày 28/6/2023, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc, thời hạn 18 tháng; đến ngày 16/8/2023 Cơ sở cai nghiện ma túy tỉnh An Giang ra quyết định tạm đình chỉ thi hành quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc.

Về nhân thân: Ngày 30/11/2016, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xử phạt 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 12/6/2017 chấp hành xong hình phạt tù. Ngày 20/12/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Châu Phú xử phạt 10 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”; ngày 12/8/2018 chấp hành xong hình phạt tù.

Bị cáo bị bắt, tạm giam kể từ ngày 16/8/2023 cho đến nay; bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Mai Trường Toản, sinh năm 1985. Nơi cư trú: Tổ 13, ấp MC, xã MĐ, huyện CP, tỉnh AG (vắng mặt)

- Người làm chứng: Bà Trịnh Thị Thanh H (vắng mặt), bà Nguyễn Thị Lượm (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do không có tiền tiêu xài nên Trần Hữu Th nảy sinh ý định đi tìm tài sản của người khác lấy trộm, bán lấy tiền tiêu xài. Khoảng 00 giờ 30 phút ngày 07/6/2023, Th đi bộ đến khu vực ấp Mỹ Chánh, xã Mỹ Đức, huyện Châu Phú phát hiện nhà của Mai Trường Toản đã đóng cửa, bên trong có ánh đèn sáng, quan sát thấy không có người, nên Th leo hàng rào vào bên trong lấy trộm một điện thoại di động hiệu Samsung màu đen của Toản để trên bàn mang về nhà cất giấu. Riêng Toản khi phát hiện bị mất trộm đã đến Công an xã Mỹ Đức trình báo sự việc. Ngày 14/8/2023, Th bị khởi tố điều tra.

Tại Kết luận định giá số 27/KL-HĐĐGTS ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Phú, kết luận: 01 (Một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG S21 FE 5G màu đen loại 8GB, số IMEI 1: 352970500173131, IMEI 2: 353232940173133 đã qua sử dụng, trị giá 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).

Vật chứng thu giữ trong vụ án gồm: 01 (Một) điện thoại di động hiệu SAMSUNG S21 FE 5G màu đen loại 8GB (đã trao trả cho bị hại Mai Trường Toản theo biên bản ngày 16/6/2023).

Trong quá trình điều tra và truy tố, những người tham gia tố tụng trong vụ án khai như sau:

- Bị cáo Trần Hữu Th khai nhận phù hợp với nội dung vụ án và thừa nhận hành vi phạm tội.

- Bị hại ông Mai Trường Toản trình bày phù hợp với nội dung vụ án, hiện ông Toản đã nhận lại tài sản bị mất trộm, không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

- Những người làm chứng bà Trịnh Thị Thanh H và bà Nguyễn Thị L khai phù hợp với nội dung vụ án.

Tại Cáo trạng số: 58/CT-VKS ngày 19 tháng 10 năm 2023: Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Châu Phú để xét xử bị cáo Trần Hữu Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa:

Bị cáo Trần Hữu Th khai nhận phù hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra và truy tố. Bị cáo thừa nhận nội dung bản Cáo trạng truy tố đối với bị cáo là đúng, bị cáo nhận tội, không tranh luận. Lời nói sau cùng, bị cáo nhận thấy ăn năn hối cải, xin giảm nhẹ hình phạt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú thực hiện quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như Cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích tính chất, mức độ của hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự và nhân thân bị cáo, Viện kiểm sát đề nghị:

- Về trách nhiệm hình sự:

+ Áp dụng khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Hữu Th từ 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng đến 02 (Hai) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

+ Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Hữu Th.

- Về biện pháp tư pháp, vật chứng là 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung S21 FE 5G màu đen loại 8G, đã trả lại cho bị hại Mai Trường Toản, ông Toản không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên không xem xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về thủ tục tố tụng:

Về Quyết định, hành vi tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng: Trong giai đoạn điều tra và truy tố, Cơ quan điều tra Công an huyện Châu Phú, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện hợp pháp.

Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: Bị hại và những người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai ở cơ quan điều tra và phù hợp với nội dung vụ án, nên không làm ảnh hưởng đến việc xét xử. Căn cứ Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án.

Về trách nhiệm hình sự:

Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Trần Hữu Th thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với nội dung Cáo trạng của Viện kiểm sát; phù hợp với các lời khai của bị hại và những người làm chứng; phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án như: Biên bản khám nghiệm hiện trường ngày 07/6/2023 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú; Kết luận định giá tài sản số 27/KL.HĐĐGTS ngày 12/6/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Phú và các vật chứng thu giữ được trong vụ án. Do đó, có đủ cơ sở xác định: Vào ngày 07/6/2023 bị cáo Trần Hữu Th đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Mai Trường Toản là 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung S21 FE 5G màu đen loại 8G, giá trị tài sản là 8.000.000 đồng (Tám triệu đồng).

Xét thấy, bị cáo Trần Hữu Th là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương. Do đó, hành vi của bị cáo Trần Hữu Th đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Phú truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

Xét về tính chất, mức độ của hành vi phạm tội và nhân thân bị cáo nhận thấy: Bị cáo Trần Hữu Th là người có sức khỏe để lao động nhưng bị cáo không có nghề nghiệp ổn định, tham gia tệ nạn xã hội và bị nghiện ma túy nên đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản của người khác để bán lấy tiền tiêu xài, thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Bị cáo đã lợi dụng thời điểm đêm khuya, vắng người đi lại và sự mất cảnh giác của bị hại để dễ dàng thực hiện hành vi phạm tội. Mặc dù cửa rào nhà bị hại đã khóa nhưng bị cáo vẫn trèo qua hàng rào và mở cửa vào nhà lấy trộm tài sản; bị cáo khai thấy đèn trong nhà còn sáng, khả năng người trong nhà còn thức nhưng bị cáo vẫn đột nhập vào nhà; từ đó thể hiện sự liều lĩnh, quyết liệt trong việc thực hiện hành vi phạm tội của bị cáo. Bị cáo đã từng 02 lần bị xử phạt tù về hành vi trộm cắp tài sản nhưng bị cáo vẫn tiếp tục trộm cắp tài sản của người khác, cho thấy thái độ xem thường pháp luật của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy cần buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tương xứng để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung; không chấp nhận cho bị cáo hưởng án treo, như vậy mới thể hiện được sự nghiêm minh của pháp luật.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Điều 52 Bộ luật Hình sự. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo Th thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Th quy định tại điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, từ đó Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.

Về hình phạt bổ sung: Do bị cáo hoàn cảnh khó khăn, không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt tiền bổ sung đối với bị cáo.

Về biện pháp tư pháp: Đối với vật chứng là 01 (Một) điện thoại di động hiệu Samsung S21 FE 5G màu đen loại 8G, thuộc sở hữu hợp pháp của bị hại Mai Trường Toản, nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Phú giao trả lại cho ông Toản là đúng quy định tại điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự. Ông Toản không yêu cầu bồi thường thiệt hại nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Bị cáo Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm h, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự;

- Tuyên bố: Bị cáo Trần Hữu Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

- Xử phạt bị cáo Trần Hữu Th: 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính kể từ ngày 16 (Mười sáu) tháng 8 (Tám) năm 2023 (Hai không hai ba).

- Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo Trần Hữu Th.

Căn cứ vào các điều 136, 331 và 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

- Về án phí: Bị cáo Trần Hữu Th phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Về quyền kháng cáo: Bị cáo Trần Hữu Th có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại Mai Trường Toản vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ