- Tranh chấp gì? án hình sự — "NGUYEN TAN D CUNG CAC BI CAO KHAC- CỐ Ý GÂY THƯƠNG TÍCH - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 1…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HS-PT Ngày: 04 - 8 - 2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Kiều Duyên.
Các Thẩm phán:
Ông Nguyễn Hữu Tuấn.
Ông Nguyễn Văn Ngừng.
- Thư ký phiên tòa: bà Tăng Thị Bích Trâm – Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: ông Nguyễn Văn Thiết - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 8 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Long xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 59/2023/TLPT-HS ngày 17 tháng 5 năm 2023 đối với các bị cáo Nguyễn Tấn Đ cùng các bị cáo khác do có kháng cáo của các bị cáo, bị hại Châu Trường V đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
- Các bị cáo có kháng cáo, bị kháng cáo:
1. Họ và tên: Nguyễn Tấn T, sinh ngày: 04/3/2005; tên gọi khác: Nhôm.
Nơi cư trú: khóm 1, thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn L và bà Lý Đang Th; anh, em ruột: 02 người (lớn nhất sinh năm 2003, nhỏ nhất bị cáo); tiền án: không.
Tiền sự: 02 lần.
- Ngày 11/10/2021 bị Công an huyện MT, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0029540/QĐ-XPHC với số tiền 1.250.000 đồng, về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”, đóng phạt ngày 21/10/2021.
- Ngày 02/01/2022 bị Công an huyện MT, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0014323/QĐ-XPHC với số tiền 750.000 đồng, đóng phạt ngày 13/01/2022.
Bị cáo đang bị tạm giam trong vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.
2. Họ và tên: Nguyễn Tấn Đ, sinh năm: 2003; tên gọi khác: Tol
Nơi cư trú: khóm 1, thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tấn L và bà Lý Đang Th; anh, em ruột: 02 người (lớn nhất bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2005); tiền án: không.
Tiền sự: ngày 08/6/2021 bị Ủy ban nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1415/QĐ-XPVPHC với số tiền 7.500.000 đồng, về hành vi “Mua bán, vận chuyển, tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”, hiện chưa đóng phạt.
Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
3. Họ và tên: Nhâm Hồng Đ1, sinh năm: 2000; tên gọi khác: Quẹo hay Đức Lai.
Nơi cư trú: khóm 5, thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 05/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Hồng Tr và bà Nhâm Thị Minh Ch; tiền án: không.
Tiền sự: ngày 08/6/2021 bị Ủy ban nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 1413/QĐ-XPVPHC với số tiền 15.000.000 đồng, về hành vi “Mua bán, vận chuyển, tàng trữ vũ khí thô sơ, công cụ hỗ trợ mà không có giấy phép”, hiện chưa đóng phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 19/9/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa
4. Họ và tên: Nguyễn Văn H, sinh năm: 2001; tên gọi khác: Hậu cá chép.
Nơi cư trú: ấp Trung H, xã Trung H1, huyện VL, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H3 và bà Nguyễn Thị Bích H4; tiền án: không.
Tiền sự: ngày 29/10/2021 bị Công an huyện MT, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 0029546/QĐ-XPHC với số tiền 2.500.000 đồng, về hành vi “Xâm hại sức khỏe người khác”, hiện chưa đóng phạt.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 26/12/2022 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
5. Họ và tên: Lý Quốc Kh, sinh năm: 2003.
Nơi cư trú: khóm 4, thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lý Thành Nh và bà Nguyễn Thị Bé H5; anh, em ruột: 03 người (lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2016); tiền án: không.
Tiền sự: ngày 18/02/2022 bị Ủy ban nhân dân xã TL, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 09/QĐ-XPHC với số tiền 1.600.000 đồng, về hành vi “Đánh bạc”, hiện chưa đóng phạt.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
6. Họ và tên: Hồ Cao Thanh Nh, sinh năm: 2003.
Nơi cư trú: khóm 4, thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 08/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hồ Thanh Tr1 và bà Cao Thị Như Th; anh, em ruột: 02 người (lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2006); tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
7. Họ và tên: Lâm Thanh Tr4, sinh năm: 2001.
Nơi cư trú: khóm 6, thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lâm Văn Ph và bà Nguyễn Thị Mỹ Ch1; chị, em ruột: 02 người (lớn nhất sinh năm 1999, nhỏ nhất bị cáo); tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
8. Họ và tên: Dương Đức Đ2, sinh năm: 2004.
Nơi cư trú: ấp Phước Th, xã Bình Ph, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Văn Tr3 và bà Nguyễn Thị Th; anh, em ruột: 02 người (lớn nhất sinh năm 1996, nhỏ nhất bị cáo); tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
9. Họ và tên: Nguyễn Tấn Đ3, sinh năm: 2003; tên gọi khác: Đạt Gucci.
Nơi cư trú: ấp Vàm L, xã Chánh A, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long; nghề nghiệp: làm thuê; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Tuấn M và bà Châu Ngọc H6; anh, em ruột: 02 người (lớn nhất là bị cáo, nhỏ nhất sinh năm 2011); tiền án: không; tiền sự: không.
Bị cáo hiện tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo:
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Nguyễn Tấn Tới:
1. Ông Nguyễn Tấn L, sinh năm: 1978. (có mặt)
2. Bà Lý Đang Th, sinh năm: 1982. (có mặt)
Cùng nơi cư trú: khóm 1, thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
- Người đại diện hợp pháp của bị cáo Dương Đức Đỉnh:
1. Ông Dương Văn Tr3, sinh năm: 1968. (vắng mặt)
2. Bà Nguyễn Thị Th, sinh năm: 1973. (có mặt)
Cùng nơi cư trú: ấp Phước Th, xã Bình Ph, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
- Người bào chữa cho bị cáo Nhâm Hồng Đ1: ông Tô Vĩnh H, Luật sư Công ty luật TNHH Nhật Lý thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long. (có măt)
- Người bào chữa cho bị cáo Hồ Cao Thanh Nh: ông Lê Hữu Ph, Luật sư Văn phòng luật sư Nguyễn Đạt thuộc Đoàn luật sư tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
- Bị hại: Châu Trường V, sinh năm: 1999; nơi cư trú: ấp An H, xã Tân An H, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long. (có mặt)
Ngoài ra, bị hại Trương Lê Văn T; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án Lê Thành M không có kháng cáo, không bị kháng nghị hoặc không có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, tòa không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/5/2022, bị cáo Nguyễn Tấn T cùng các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Lâm Thanh Tr chơi bầu cua ở hội chợ tại sân Vận động huyện MT, tỉnh Vĩnh Long. Do bị thua, nên bị cáo T nói với bị cáo Tr “Chơi thua hoài, chắc dẹp sòng bầu cua luôn quá”. Sau đó, cả ba cùng về nhà bị cáo T tại khóm 1, thị trấn Cái Nh, huyện MT tổ chức uống bia. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh và anh Nguyễn Nhật B từ nơi chơi bầu cua ở hội chợ về ghé vào nhà bị cáo T và kể sự việc đang chơi bầu cua có người tên Đặng Thanh H1 hỏi B “Có thằng nào lùn lùn xăm mình đòi dẹp sòng chơi bầu cua không”; B trả lời “không biết”. Khi nghe kể lại sự việc, bị cáo T nói “Tao nè, sao không xuống đây kiếm tao đi”.
Cùng lúc này, anh Nguyễn Minh Tr; Nguyễn Tấn T, Mai Trần Phúc V và bị hại Châu Trường V, Trương Lê Văn T điều khiển xe ngang nhà bị cáo T, hướng từ sân vận động đến chợ Cái Nh có nẹt pô và do bị cáo T và Nguyễn Minh Tr có mâu thuẫn từ trước, Tr thường chơi chung với H1; nên bị cáo T điện thoại cho các bị cáo mang hung khí để tìm chém gây thương tích cho nhóm của H1 và Tr, cụ thể:
Bị cáo T gọi điện thoại cho bị cáo Nhâm Hồng Đ1 với nội dung “rủ ra nhà để nhậu”, bị cáo Đ1 hiếu ý là kêu xuống để đánh nhau, nhưng không biết đánh ai, ở đâu, bị cáo Đ1 nói không có xe nên bị cáo T kêu bị cáo Kh điều khiển xe môtô mang biển kiểm soát 95F2- 4160 rước bị cáo Đ1. Tiếp đến bị cáo T gọi điện thoại cho bị cáo Dương Đức Đ2 với nội dung “Xuống nhà T đi công chuyện cùng T”, bị cáo Đ2 hiểu ý là kêu xuống đánh nhau, nhưng không biết đánh nhau với ai, ở đâu; bị cáo Đ2 nói không có xe nên bị cáo T điện thoại cho bị cáo H gọi điện thoại với nội dung “bạn đang ở đâu, xuống nhà đi công chuyện với tôi”, bị cáo H hiểu ý là kêu xuống đi đánh nhau, nhưng không biết đánh ai, ở đâu và kêu bị cáo H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Winner (không rõ biển số) rước bị cáo Đ2, bị cáo H đồng ý. Tiếp theo, bị cáo T gọi điện thoại cho bị cáo Nguyễn Tấn Đ3 với nội dung “có chuyện rồi mang đồ lên cho tôi mượn”, bị cáo Đ3 hiểu ý là đi chém người khác gây thương tích và kêu mang hung khí đến nhưng không biết chém ai, ở đâu, bị cáo Đ3 nói không có xe, bị cáo T nói để cho bạn xuống rước.
Sau đó, bị cáo Kh điều khiển xe chở bị cáo Đ1 đến nhà bị cáo T, bị cáo H điều khiển xe Winner chở bị cáo Đ2 cùng người thanh niên không rõ họ tên địa chỉ điều khiển xe Future chở bị cáo Đ3 đến. Lúc này, bị cáo Đ về nhà lấy 02 cây rựa và 03 con dao của bị cáo Đ; bị cáo Đ3 mang theo 01 túi vải đựng vợt hiệu tennis bên trong có 03 con dao cùng đem đến nhà bị cáo T, bị cáo Đ3 đưa dao cho bị cáo T cất giữ.
Tại thời điểm đó tại nhà của bị cáo T gồm có: bị cáo Nguyễn Thành T, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Tấn Đ3, Lý Quốc Kh, Lâm Thanh Tr, Dương Đức Đ2, Nguyễn Văn H, Hồ Cao Thanh Nh và hai thanh niên (không rõ họ tên địa chỉ), bị cáo T nói “H1 tìm Tới gây chuyện, giờ H1 đang nhậu cùng nhóm của Tr tại bờ kè nên T muốn tất cả kiếm nhóm của H1 và Trường để chém gây thương tích”; sau khi nghe bị cáo T nói, tất cả các bị cáo không trả lời và thống nhất ý chí với bị cáo T.
Bị cáo T kêu bị cáo Hậu chở bị cáo Đ chạy một vòng xuống khu vực bờ kè thuộc khóm 1, thị trấn Cái Nh, huyện MT, để xác định nhóm của H1 và Tr đang nhậu ở đâu. Khoảng 05 phút sau, bị cáo H và bị cáo Đ báo lại địa điểm của nhóm H1 và Tr đang nhậu tại quán “Tư Bí” thuộc khóm 1, thị trấn Cái Nh. Bị cáo T hô “Đi tụi bây” thì bị cáo Đ lấy 02 cây rựa đưa cho bị cáo Đức 01 cây, bị cáo Đ2 01 cây, lấy 01 con dao đưa cho bị cáo T, lấy 01 con dao đưa cho bị cáo H; bị cáo Đ cầm 01 con dao; Kh, Nh, Đ3 mỗi bị cáo cầm 01 cây dao do bị cáo Đ3 đem đến.
Bị cáo H điều khiển xe môtô nhãn hiệu Winner chở bị cáo T và bị cáo Đ2. Bị cáo Đ1 điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Wave RSX màu đỏ cho bị cáo Nh và bị cáo Đ3. Bị cáo Tr điều khiển xe môtô biển số 95F2- 4160 chở bị cáo Đ và bị cáo Kh, tất cả các bị cáo đều cầm theo hung khí. Hai thanh niên còn lại điều khiển xe môtô nhãn hiệu Future đi theo nhưng không đem theo hung khí. Cả nhóm chạy đến địa điểm của nhóm của Tr đang nhậu.
Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi bị cáo T, Đ2, H, Nh, Đ3, Đ1 và hai thanh niên đến kho bạc huyện MT đậu trước cách quán nhậu “Tư Bí” khoảng 20 mét chờ xe của bị cáo Tr, Đ, Kh chạy lại. Khi xe của bị cáo Tr, Kh, Đ đến xác định không có H1 nhậu mà chỉ có Tr đang nhậu cùng Nguyễn Tấn T, Mai Trần Phúc V, Trương Lê Văn T2, bị hại Châu Trường V. Lúc này, bị cáo T, Đ2, Đ, Kh, Nh, Tr, Đ2, H, Đ3 cùng cầm hung khí trên tay cùng 02 thanh niên đi gần lại bàn nhậu của Tr thì bị cáo Đ2 hô “chém nó”. Khi nghe bị cáo Đ2 hô “chém nó” thì Tr, Tấn T, Vinh, Văn T1 cùng bị hại V phát hiện nên bỏ chạy theo hai hướng khác nhau, nhưng bị cáo V vừa đứng dậy chưa kịp bỏ chạy thì bị cáo Đ dùng dao chém vào người bị hại V hai cái, cái thứ nhất chém từ trên xuống, bị hại Vũđưa tay trái lên đỡ thì trúng 01 cái vào mu bàn tay trái, khi bị hại V bỏ chạy thì bị cáo Đ tiếp tục chém cái thứ hai từ phía sau trúng vào bả vai trái 01 cái; sau đó bị hại Vũ cùng Tấn T bỏ chạy theo đường đal bờ kè hướng chợ Cái Nh để tẩu thoát. Còn Tr, V, Văn T1 bỏ chạy trên bờ kè về hướng “cầu số 9” thì bị cáo Đ2, Kh, H, T cầm rựa và dao đuổi theo, bị cáo Nh không truy đuổi mà đứng lại vị trí bị cáo Đ chém bị hại V. Lúc này, bị hại Văn T1 bỏ chạy 01 đoạn khoảng 05 mét thì vấp ngã xấp xuống mặt đường nên đã bị bị cáo T chạy đến chém 02 cái: cái thứ nhất chém từ trên xuống trúng vào cánh tay phải của bị hại T1, cái thứ hai trúng vào mặt sau cẳng tay phải của bị hại Văn T1; bị hại T1 bỏ chạy vào nhà người dân gần đó. Còn bị cáo Kh, Đ2, H truy đuổi Tr và V một đoạn khoảng 50 mét thì không đuổi kịp nên không chém được. Sau khi gây thương tích cho bị hại V, Văn T1 thì các bị cáo điều khiển xe đến cầu số 8 rồi tự giải tán.
Khi sự việc xảy ra bị hại V, Văn T1 được đưa đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Long cấp cứu điều trị. Đến ngày 25/7/2022 bị hại V và T1 cùng làm đơn yêu cầu giám định tỷ lệ thương tật và yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 114/2022/TgT ngày 06/7/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Vĩnh Long, kết luận thương tích đối với Trương Lê Văn T1, như sau:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương mặt sau cánh tay phải 20 cm do vật sắc gây nên đứt cơ tam đầu, gãy một mảnh rời lồi cầu ngoài xương cánh tay phải được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 12 x 0.5 cm; mảnh xương rời xương cánh tay phải. Tỷ lệ 09%.
- Sẹo vết thương phần mềm 1/3 giữa mặt sau cẳng tay phải kích thước 8x0.1 cm, không gây cố tật. Tỷ lệ 02%.
2. Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 11%.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 113/2022/TgT ngày 07/7/2022 của Trung tâm pháp y – Sở y tế tỉnh Vĩnh Long, kết luận thương tích đối với Châu Trường V:
1. Dấu hiệu chính qua giám định:
- Vết thương phần mềm vai trái 16 cm do vật sắc gây nên, được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 8 x0.5 cm, không gây cố tật. Tỷ lệ 03%.
- Vết thương phần mềm mu bàn tay trái 01 cm và 02 cm do vật sắc gây nên, được điều trị, hiện tại sẹo vết thương kích thước 1x0,5 cm và 0,5 x 0,1 cm không gây cố tật. Tỷ lệ 02%.
2. Theo thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019. Tỷ lệ tồn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 05%.
Trong quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Đối với hai thanh niên đi trên xe mô tô nhãn hiệu Future chưa xác định được họ tên, địa chỉ nên Cơ quan điều tra Công an huyện MT đang xác minh thu thập, chứng cứ để xử lý theo quy định của pháp luật.
Về trách nhiệm dân sự: bà Lý Đang Th là mẹ ruột của bị cáo T, Đ đã tự nguyện bồi thường thay cho hai bị cáo chi phí điều trị thương tích cho bị hại Châu Trường V số tiền 3.925.000 đồng và bị hại Văn T1 số tiền 4.200.000 đồng; các bị hại V, T1 không yêu cầu các bị cáo bồi thường thêm. Bà Th không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền đã bồi thường thay.
Tại bản án Hình sự sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện MT đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Nguyễn Tấn Đ, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh, Lâm Thanh Tr, Dương Đức Đ2, Nguyễn Tấn Đ3 phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 90, Điều 91, Điều 101 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn T 02 năm 06 tháng tù. Thời gian tù được tính từ ngày bị cáo Nguyễn Tấn Tới vào trại thi hành án phạt tù của bản án.
- Xử phạt bị cáo Dương Đức Đ2 02 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án phạt tù của bản án.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án phạt tù của bản án.
- Xử phạt bị cáo Nhâm Hồng Đ1 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 19/9/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 26/12/2022.
- Xử phạt Nguyễn Tấn Đ3 02 năm 06 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án phạt tù của bản án.
- Xử phạt bị cáo Lý Quốc Kh 02 năm 03 tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án phạt tù của bản án.
- Xử phạt bị cáo Hồ Cao Thanh Nh 02 năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo vào trại thi hành án phạt tù của bản án.
3. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 58; Điều 65 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Lâm Thanh Tr 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 04 năm. Thời gian thử thách của bị cáo được tính từ ngày tuyên án sơ thẩm là ngày 04/4/2023.
Giao bị cáo Lâm Thanh Tr cho Ủy ban nhân dân thị trấn Cái Nh, huyện MT, tỉnh Vĩnh Long phối hợp với cơ quan đoàn thể và gia đình bị cáo giám sát, giao dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo Lâm Thanh Tr cố ý vi phạm nghĩa vụ theo Điều 87 của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù của bản án.
Ngoài ra Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí, kiến nghị và quyền kháng cáo vụ án theo quy định của pháp luật.
- Sau khi xét xử sơ thẩm, ngày 15 tháng 4 năm 2023, bị cáo Nguyễn Tấn Đ có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 17 tháng 4 năm 2023, bị cáo Nhâm Hồng Đ1 có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 17 tháng 4 năm 2023, bị cáo Nguyễn Văn H có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 16 tháng 4 năm 2023, bị cáo Lý Quốc Kh có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 13 tháng 4 năm 2023, bị cáo Hồ Cao Thanh Nh có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt.
- Ngày 11 tháng 4 năm 2023 bị cáo Nguyễn Tấn Đ3 có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt, đến ngày 17 tháng 4 năm 2023, bị cáo Nguyến Tấn Đạt có đơn kháng cáo bổ sung với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt và xin được hưởng án treo.
- Ngày 18 tháng 4 năm 2023, bị hại Châu Trường V có đơn kháng cáo với nội dung: xin giảm nhẹ hình phạt cho tất cả các bị cáo.
- Ngày 11 tháng 7 năm 2023, bị cáo Nguyễn Tấn Đ3 có đơn xin rút kháng cáo.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Văn H, Nhâm Hồng DD92; Hồ Cao Thanh Nh, Lý Quốc Kh trình bày: vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
- Bị hại Châu Trường V rút kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T, Dương Đức Đ2, Nguyễn Tấn Đ3, Lâm Thanh Tr, giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tấn i, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Long phát biểu quan điểm: sau khi phân tích hành vi phạm tội của các bị cáo,phân tích các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ đề nghị căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nhâm Hồng Đ2, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh và đơn kháng cáo của bị hại Châu Trường V đối với các bị cáo Đ2, H, Kh, Nh, Đ. Giữ nguyên Bản án sơ thẩm số 21/2023/HS-ST ngày 04/4/2023 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
- Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 58, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
+ Xử phạt bị cáo Nhâm Hồng Đ2 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam là ngày 19/9/2022.
+ Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/12/2022.
+ Xử phạt bị cáo Lý Quốc Kh 02 (hai) năm 03 (ba) tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
+ Xử phạt bị cáo Hồ Cao Thanh Nh 02 (hai) năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù được tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng Hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T, Dương Đức Đ2, Nguyễn Tấn Đ3, Lâm Thanh Tr do tại phiên tòa bị cáo Đ3 rút kháng cáo; bị hại Vũ rút kháng cáo đối với các bị cáo Tới, Đạt, Đỉnh, Trà.
Về án phí: các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh phải chịu 200.000 đồng án phì hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án không có kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực thi hành kể từ ngày hết hạn thời gian kháng cáo, kháng nghị.
Luật sư Tô Vĩnh H bào chữa cho bị cáo Nhâm Hồng Đ2 trình bày: về nhân thân bị cáo Đ có hoàn cảnh là cha mẹ ly hôn, bị cáo phải ở chung với ông nội, bà nội đã lớn tuổi. Bị cáo là lao động chính trong gia đình, đã có đơn xác nhận của chính quyền địa phương, đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Luật sư Lê Hữu Ph bào chữa cho Hồ Cao Thanh Nh trình bày: bị cáo đã nhận thấy hành vi của mình là sai, bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; gia đình bị cáo chấp hành tốt chính sách tại địa phương, bị cáo phạm tội lần đầu với vai trò giúp sức, tuy bị cáo có đi chung nhóm với các bị cáo khác nhưng bị cáo Nh không trực tiếp gây thương tích cho các bị hại và tại phiên tòa bị hại V vẫn giữ nguyên kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nhã; đề nghị cho bị cáo hưởng án treo.
Lời nói sau cùng của các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Văn H, Nhâm Hồng Đ1, Hồ Cao Thanh Nh, Lý Quốc Kh: xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện MT, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện MT, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, luật sư không có ý kiến hoặc khiếu nại, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng; do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi phạm tội của bị cáo: căn cứ vào các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, căn cứ vào lời trình bày của các bị cáo, bị hại đã có căn cứ xác định:
Khoảng 20 giờ 00 phút ngày 20/5/2022, bị cáo Nguyễn Tấn T cùng các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Lâm Thanh Tr chơi bầu cua ở hội chợ tại sân Vận động huyện MT. Do bị thua, nên bị cáo T nói với bị cáo Tr “Chơi thua hoài, chắc dẹp sòng bầu cua luôn quá”. Sau đó, cả ba cùng về nhà bị cáo T tại khóm 1, thị trấn Cái Nh tổ chức uống bia. Đến khoảng 20 giờ 40 phút cùng ngày, bị cáo Lý Quốc Kh và Hồ Cao Thanh Nh và anh Nguyễn Nhật B từ nơi chơi bầu cua ở hội chợ về ghé vào nhà bị cáo T và kể lại việc đang chơi bầu cua có người tên Đặng Thanh H1 hỏi B “Có thằng nào lùn lùn xăm mình đòi dẹp sòng chơi bầu cua không”; B trả lời “không biết”. Khi nghe kể lại sự việc trên bị cáo T nói “Tao nè, sao không xuống đây kiếm tao đi”.
Cùng lúc này, anh Nguyễn Minh Tr, Nguyễn Tấn T, Mai Trần Phúc V và bị hại Châu Trường V, Trương Lê Văn T1 điều khiển xe ngang nhà bị cáo T, hướng từ sân vận động đến chợ Cái Nh có nẹt pô và do bị cáo T và Nguyễn Minh Tr có mâu thuẫn từ trước, Tr thường chơi chung với H1; nên bị cáo T điện thoại cho các bị cáo mang hung khí để tìm chém gây thương tích cho nhóm của H1 và Tr. Bị cáo T gọi điện thoại cho bị cáo Nhâm Hồng Đ1, bị cáo Lý Quốc Kh, bị cáo Dương Đức Đ2, bị cáo Nguyễn Tấn Đ3, bị cáo Nguyễn Văn H để kêu đi đánh nhóm Nguyễn Minh Tr.
Sau đó, bị cáo Kh điều khiển xe chở bị cáo Đ1 đến nhà bị cáo T, bị cáo H điều khiển xe Winner chở bị cáo Đ2 cùng người thanh niên không rõ họ tên địa chỉ điều khiển xe Future chở bị cáo Đ3 đến. Lúc này, bị cáo Đ về nhà lấy 02 cây rựa và 03 con dao của bị cáo Đ; bị cáo Đạt mang theo 01 túi vải đựng vợt hiệu tennis bên trong có 03 con dao cùng đem đến nhà bị cáo T, bị cáo Đ3 đưa dao cho bị cáo T cất giữ.
Tại thời điểm đó tại nhà của bị cáo T gồm có: bị cáo Nguyễn Thành T, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Tấn Đ, Nguyễn Tấn Đ3, Lý Quốc Kh, Lâm Thanh Tr, Dương Đức Đ2, Nguyễn Văn H, Hồ Cao Thanh Nh và hai thanh niên (không rõ họ tên địa chỉ), bị cáo T nói “H1 tìm T gây chuyện, giờ H1 đang nhậu cùng nhóm của Tr tại bờ kè nên T muốn tất cả kiếm nhóm của H1 và Tr để chém gây thương tích”; sau khi nghe bị cáo T nói, tất cả các bị cáo không trả lời và thống nhất ý chí với bị cáo T.
Bị cáo T kêu bị cáo H chở bị cáo Đ chạy một vòng xuống khu vực bờ kè thuộc khóm 1, thị trấn Cái Nh, huyện MT, để xác định nhóm của H1 và Tr đang nhậu ở đâu. Khoảng 05 phút sau, bị cáo H và bị cáo Đ báo lại địa điểm của nhóm H1 và Tr đang nhậu tại quán “Tư Bí” thuộc khóm 1, thị trấn Cái Nh. Bị cáo T hô “Đi tụi bây” thì bị cáo Đ lấy 02 cây rựa đưa cho bị cáo Đ2 01 cây, bị cáo Đ3 01 cây, lấy 01 con dao đưa cho bị cáo T, lấy 01 con dao đưa cho bị cáo H; bị cáo Đ cầm 01 con dao; Kh, Nh, Đ3 mỗi bị cáo cầm 01 cây dao do bị cáo Đ3 đem đến. Cả nhóm chạy đến địa điểm nhóm của Trường đang nhậu.
Đến khoảng 22 giờ 40 phút cùng ngày, khi bị cáo T, Đ2, H, Nh, Đ3, Đ1 và hai thanh niên đến kho bạc huyện MT đậu trước cách quán nhậu “Tư Bí” khoảng 20 mét chờ xe của bị cáo Tr, Đ, Kh chạy lại. Khi xe của bị cáo Tr, Kh, Đ đến xác định không có H1 nhậu mà chỉ có Tr đang nhậu cùng Nguyễn Tấn T, Mai Trần Phúc V, Trương Lê Văn T1, bị hại Châu Trường V. Lúc này, bị cáo T, Đ1, Đ, Kh, Nh, Tr, Đ2, H, Đ3 cùng cầm hung khí trên tay cùng 02 thanh niên đi gần lại bàn nhậu của Tr thì bị cáo Đ1 hô “chém nó”. Khi nghe bị cáo Đ1 hô “chém nó” thì Tr, Tấn T, V, Văn T1 cùng bị hại V phát hiện nên bỏ chạy theo hai hướng khác nhau, nhưng bị cáo V vừa đứng dậy chưa kịp bỏ chạy thì bị cáo Đ dùng dao chém vào người bị hại V hai cái, cái thứ nhất chém từ trên xuống, bị hại V đưa tay trái lên đỡ thì trúng 01 cái vào mu bàn tay trái, khi bị hại V bỏ chạy thì bị cáo Đ tiếp tục chém cái thứ hai từ phía sau trúng vào bả vai trái 01 cái; sau đó bị hại V cùng Tấn T bỏ chạy theo đường đal bờ kè hướng chợ Cái Nh để tẩu thoát. Còn Tr, V, Văn T1 bỏ chạy trên bờ kè về hướng “cầu số 9” thì bị cáo Đ1, Kh, H, T cầm rựa và dao đuổi theo, bị cáo Nh không truy đuổi mà đứng lại vị trí bị cáo Đ chém bị hại V. Lúc này, bị hại Văn T1 bỏ chạy 01 đoạn khoảng 05 mét thì vấp ngã xấp xuống mặt đường nên đã bị bị cáo T chạy đến chém 02 cái: cái thứ nhất chém từ trên xuống trúng vào cánh tay phải của bị hại T1, cái thứ hai trúng vào mặt sau cẳng tay phải của bị hại Văn T1; bị hại T1 bỏ chạy vào nhà người dân gần đó. Còn bị cáo Kh, Đ1, H truy đuổi Tr và V một đoạn khoảng 50 mét thì không đuổi kịp nên không chém được. Theo kết quả giám định tỷ lệ thương tích của bị hại Trương Lê Văn T1 là 11%, bị hại Châu Trường V là 05%. Do đó, cấp sơ thẩm xét xử các bị cáo Nguyễn Tấn T, Nguyễn Tấn Đ, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ cao Thanh Nh, Lâm Thanh Tr, Dương Đức Đ2, Nguyễn Tấn Đ3 về tội “ Cố ý gây thương tích” là có căn cứ.
Tại phiên tòa bị hại Châu Trường V xin rút lại kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T, Dương Đức Đ2, Lâm Thanh Tr là tự nguyện nên được chấp nhận, đối với các bị cáo T, Đ2, Trà không kháng cáo, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo T, Đ2, Tr.
Đối với bị cáo Nguyễn Tấn Đ3 có kháng cáo, nhưng ngày 11/7/2023 bị cáo Đ3 rút kháng cáo, tại phiên tòa bị hại Châu Trường V rút kháng cáo xin giảm nhẹ đối với bị cáo Đ3, nên Hội đồng xét xử phúc thẩm không xem xét, án sơ thẩm có hiệu lực pháp luật đối với bị cáo Đ3.
Đối với kháng cáo của các bị cáo Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt. Bị hại Châu Trường V có đơn kháng cáo với nội dung xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo Đ1, H, Kh, Nh là không có căn cứ.
Đối với bị cáo Đ, mẹ của bị cáo Đ đã bồi thường thiệt hại cho phía bị hại xong, nhưng cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết bồi thường thiệt hại quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự là thiếu sót, tuy nhiên mức án cấp sơ thẩm áp dụng đối với bị cáo Đ là tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nên không có căn cứ chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đ.
Đối với các bị cáo Nhâm Hồng Đ2, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh khi xét xử sơ thẩm đã xem xét hết các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và quyết định mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo. Tại cấp phúc thẩm các bị cáo không cung cấp tình tiết giảm nhẹ nào mới. Do đó, không có căn cứ giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.
Lời phát biểu của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ.
Lời bào chữa của luật sư bào chữa cho bị cáo Đ1 và bị cáo Nh là chưa được chấp nhận.
Về án phí hình sự phúc thẩm: các bị cáo Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh.
Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Châu Trường V đối với các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh.
Giữ nguyên án sơ thẩm số: 21/2023/HS-ST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện MT, tỉnh Vĩnh Long.
1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn Đ 02 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
2. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38; Điều 58 của Bộ luật Hình sự.
- Xử phạt bị cáo Nhâm Hồng Đ1 02 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 19/9/2022.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn H 02 năm 06 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo bị bắt tạm giam ngày 26/12/2022.
- Xử phạt bị cáo Lý Quốc Kh 02 năm 03 tháng tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Hồ Cao Thanh Nh 02 năm tù, về tội “Cố ý gây thương tích”. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
3. Căn cứ Điều 348 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T, Dương Đức Đ2, Nguyễn Tấn Đ3, Lâm Thanh Tr. Bản án hình sự sơ thẩm số 21/2023/HSST ngày 04 tháng 4 năm 2023 của Tòa án nhân dân huyện MT có hiệu lực pháp luật đối với các bị cáo Nguyễn Tấn T, Dương Đức Đ2, Nguyễn Tấn Đ3, Lâm Thanh Tr.
4. Án phí: áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Nguyễn Tấn Đ, Nhâm Hồng Đ1, Nguyễn Văn H, Lý Quốc Kh, Hồ Cao Thanh Nh mỗi bị cáo nộp 200.000 đồng án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - TANDTC: 01; - TANDCC: 01; - VKSNDCC: 01; - VKSND TVL: 02; - TAND HMT: 02; - VKSND + CQĐT HMT: 02; - CQTHADS +THAHS HMT: 02; - TG + BC: 02; - PHSCAVL: 01; - STP: 01; - UBND, CA thị trấn Cái Nh, xã Bình Ph, xã Chánh A, xã Trung H1: 08; - Lưu VP, P.KTNV, lưu hồ sơ vụ án:02. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký tên và đóng dấu) Huỳnh Thị Kiều Duyên |