vanban.org

Bản án 55/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Tiến Tr.

Chị Huỳnh Thị Tiến Tr được ly hôn với anh Lê Văn Ch. Giấy chứng nhận kết hôn số 155 được Uỷ ban nhân dân phường CPA, thành phố CĐ, tỉnh AG cấp ngày 02 tháng 11 năm 2020 cho chị Huỳnh Thị Tiến Tr và anh Lê Văn Ch không còn giá trị pháp lý. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Tiến Tr.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ TÂN CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 19-7-2023
“V/v tranh chấp hôn nhân và
gia đình, ly hôn, nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ TÂN CHÂU, TỈNH AN GIANG

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thùy Dương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lưu Văn Hoàng;

2. Ông Nguyễn Thế Phương.

Thư ký phiên tòa: Ông Trịnh Hữu Lợi - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Bảo Thịnh - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 502/2022/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 12 năm 2022về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình, ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 60/2023/QĐXXST-HN ngày 25 tháng 4 năm 2023; thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 16/TB-TA ngày 05 tháng 5 năm 2023; thông báo về việc thay đổi thời gian xét xử số: 20/TB-TA ngày 26 tháng 5 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 60/2023/QĐST-HNGĐ ngày 16 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Huỳnh Thị Tiến Tr, sinh năm 1997. Nơi cư trú: Tổ 2, khóm VP, phường CPA, thành phố CĐ tỉnh AG;

Bị đơn: Anh Lê Văn Ch, sinh năm 1992. Nơi cư trú: Tổ 10, khóm LTC, phường LH, thị xã TC, tỉnh AG.

Chị Tr có mặt; anh Ch vắng mặt tại phiên tòa, không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện, lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Huỳnh Thị Tiến Tr trình bày: Năm 2019, chị Tr và anh Ch do tự tìm hiểu, yêu thương nhau, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường CPA, thành phố CĐ, tỉnh AG theo giấy chứng nhận kết hôn số 155 ngày 02/11/2020. Thời gian đầu, vợ chồng chung sống hạnh phúc, đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, anh Ch thường xuyên uống rượu về nhà xúc phạm và đánh đập chị Tr. Chị Tr và anh Ch, đã sống xa nhau từ tháng 04 năm 2021 cho đến nay, gia đình hai bên đã hàn gắn nhưng không thành, chị Tr yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Ch.

Trong thời kỳ hôn nhân, chị Tr và anh Ch có 01 (một) con chung tên Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020. Hiện con chung đang sống với chị Tr, khi ly hôn, chị Tr yêu cầu tiếp tục nuôi con chung, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tòa án đã tiến hành tống đạt Thông báo thụ lý vụ án số 935/TB-TLVA ngày 13/12/2022; Thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 47/TB-TA ngày 06/02/2023; số 174/TB-TA ngày 04/4/2023 và các văn bản tố tụng khác cho anh Lê Văn Ch nhưng anh Ch vắng mặt ở địa phương. Do đó, Tòa án tiến hành niêm yết văn bản tố tụng trên theo quy định pháp luật. Đến nay, Tòa án không nhận được văn bản ý kiến phản hồi của anh Ch đối với yêu cầu ly hôn của chị Tr và các tài liệu chứng cứ kèm theo (nếu có).

Tại phiên tòa, anh Ch vắng mặt; chị Tr giữ nguyên yêu cầu ly hôn với anh Ch.

Hội đồng xét xử công bố biên bản xác minh nơi cư trú của anh Lê Văn Ch tại Công an phường LH, thị xã TC và Ban khóm LTA, phường LT; Xác minh tình trạng hôn nhân, con chung của chị Tr và anh Ch tại Ban khóm LTC, phường LH, thị xã TC, cụ thể:

- Công an phường LH, thị xã TC cung cấp: Anh Lê Văn Ch, sinh năm 1992 có đăng ký hộ khẩu thường trú tại tổ 10, khóm LTC, phường LH, thị xã TC, tỉnh AG. Cả hộ đã bán nhà và đến khu dân cư thuộc khóm LTA, phường LT, thị xã TC, tỉnh AG.

- Ban khóm LTA, phường LT, thị xã TC, tỉnh AG cung cấp: Tại địa phượng, không có ai họ tên Lê Văn Ch, sinh năm 1992 cư trú hay sinh sống tại khu dân cư thuộc khóm LTA, phường LT, thị xã TC, tỉnh AG.

- Ban khóm LTC, phường LH, thị xã TC cung cấp: Về quan hệ hôn nhân, giữa chị Tr và anh Ch tự tìm hiểu, không tổ chức lễ cưới nhưng có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường CPA. Đến năm 2020 thì chị Tr và anh Ch phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Do đó, chị Tr và anh Ch đã không còn chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay và không thấy qua lại với nhau nữa.

Về con chung, trong thời gian chung sống, chị Tr và anh Ch có 01 (một) con chung tên Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020. Hiện cháu B đang sống và được chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng và không nghe hoặc ai báo lại về việc chị Tr đánh đập, ngược đãi hoặc bỏ bê cháu B.

Phát biểu của Kiểm sát viên:

- Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:

Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ việc đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan.

Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự và các văn bản quy phạm pháp luật có liên quan về việc xét xử vụ việc.

Việc tuân theo pháp luật của đương sự: Nguyên đơn thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định tại Điều 70, Điều 71 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.

- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Căn cứ hồ sơ vụ án, tài liệu chứng cứ, kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hôn nhân giữa chị Huỳnh Thị Tiến Tr và anh Lê Văn Ch được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tuy nhiên, cuộc sống hôn nhân của chị Tr và anh Ch đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung vợ chồng không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, do đó việc chị Tr khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Ch là có cơ sở, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về con chung, chị Tr và anh Ch có 01 (một) con chung tên Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020. Hiện cháu B được chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đề cập đến.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Tiến Tr được ly hôn anh Lê Văn Ch.

Về con chung: Chị Huỳnh Thị Tiến Tr được nuôi con chung tên: Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020, anh Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Về án phí sơ thẩm: Đương sự phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:

* Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Chị Huỳnh Thị Tiến Tr khởi kiện yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Ch. Anh Ch có nơi cư trú tổ 10, khóm LTC, phường LH, thị xã TC, tỉnh AG. Xét, đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Bị đơn anh Lê Văn Ch đã được tống đạt hợp lệ văn bản tố tụng nhưng vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai. Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

* Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Huỳnh Thị Tiến Tr và anh Lê Văn Ch có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân phường CPA, thành phố CĐ, tỉnh AG theo giấy chứng nhận kết hôn số 155 ngày 02/11/2020, hôn nhân giữa chị Tr và anh Ch là hợp pháp, phát sinh quyền và nghĩa vụ của vợ chồng.

Chị Tr khai: Quá trình chung sống, đến năm 2021 vợ chồng phát sinh mâu thuẫn nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống, tính tình không phù hợp nên thường xuyên xảy ra tranh cãi, anh Ch thường xuyên uống rượu về nhà xúc phạm và đánh đập chị Tr. Chị Tr và anh Ch đã sống với nhau từ tháng 04 năm 2021 cho đến nay, gia đình hai bên đã hàn gắn nhưng không thành, chị Tr yêu cầu ly hôn với anh Lê Văn Ch.

Qua xác minh tại Ban khóm LTC, phường LH, thị xã TC cung cấp: Vợ chồng (Tr - Ch) mâu thuẫn năm 2020, nguyên nhân do bất đồng quan điểm sống về tình cảm nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Do đó, chị Tr và anh Ch đã không còn chung sống với nhau từ năm 2020 cho đến nay và không thấy qua lại với nhau nữa.

Vợ chồng có nghĩa vụ chung thủy, thương yêu, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng hạnh phúc. Cuộc sống vợ chồng của chị Tr và anh Ch phát sinh mâu thuẫn vào năm 2021, do bất đồng quan điểm sống về tình cảm, thường xuyên xảy ra cãi vã và sống xa nhau từ tháng 04 năm 2021 cho đến nay. Tòa án tổ chức hòa giải nhiều lần để tạo điều kiện cho chị Tr và anh Ch hàn gắn tình cảm, nhưng anh Ch vắng mặt và không gửi ý kiến bằng văn bản cho Tòa án.

Tình trạng vợ chồng chị Tr và anh Ch đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục duy trì hôn nhân thì khó xây dựng được gia đình hòa thuận, hạnh phúc và bền vững mà còn kéo dài sự đau khổ cho chị Tr. Xét, cho chị Huỳnh Thị Tiến Tr y hôn với anh Lê Văn Ch là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân, chị Tr và anh Ch có 01 (một) con chung tên Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020.

Chị Tr yêu cầu được tiếp tục nuôi dạy con chung tên: Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung.

Qua xác minh Ban khóm LTC, phường LH, thị xã TC thì cháu Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020 hiện đang sống và được chị Tr chăm sóc, nuôi dưỡng và không nghe hoặc ai báo lại về việc chị Tr đánh đập, ngược đãi hoặc bỏ bê cháu B.

Để đảm bảo môi trường sống của con không bị xáo trộn và quyền lợi mọi mặt của của con, chị Triển yêu cầu được nuôi dạy con chung Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020, không yêu cầu anh Ch cấp dưỡng nuôi con chung là phù hợp quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, xét chấp nhận.

Chị Huỳnh Thị Tiến Tr cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Văn Ch rong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về tài sản chung, nợ chung: Chị Tr khai không có, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử, không xem xét, giải quyết.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Huỳnh Thị Tiến Tr phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ tạm ứng án phí đã nộp.

Anh Lê Văn Ch không phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 147, khoản 2 Điều 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Huỳnh Thị Tiến Tr.

Chị Huỳnh Thị Tiến Tr được ly hôn với anh Lê Văn Ch.

Giấy chứng nhận kết hôn số 155 được Uỷ ban nhân dân phường CPA, thành phố CĐ, tỉnh AG cấp ngày 02 tháng 11 năm 2020 cho chị Huỳnh Thị Tiến Tr và anh Lê Văn Ch không còn giá trị pháp lý.

Về con chung: Chị Huỳnh Thị Tiến Tr được tiếp tục nuôi dạy con chung tên Lê Huỳnh Gia B, sinh ngày 01/12/2020, anh Lê Văn Ch không phải cấp dưỡng nuôi con chung.

Chị Huỳnh Thị Tiến Tr cùng các thành viên gia đình (nếu có) không được cản trở anh Lê Văn Ch trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của người thân thích của con, cơ quan có thẩm quyền, Toà án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con, buộc cấp dưỡng nuôi con chung dựa trên các căn cứ do pháp luật quy định.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm:

Chị Huỳnh Thị Tiến Tr phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí hôn nhân sơ thẩm nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí hôn nhân sơ thẩm đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai số TU/2022/0006886 ngày 07 tháng 12 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Tân Châu, tỉnh An Giang; Chị Huỳnh Thị Tiến Tr đã nộp đủ án phí.

Anh Lê Văn Ch không phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, chị Tr có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Riêng thời hạn kháng cáo của anh Ch là 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ