- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vi Thị D với Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị D, cụ thể như sau:
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 110 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P TỈNH GIA LAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST Ngày: 07-7-2023 “V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ P, TỈNH GIA LAI
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Kim Thu
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Ánh Tuyết
2. Bà Nguyễn Thị Phi Khanh
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Nhớ - Thư ký Tòa án, Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Thắng Trinh - Kiểm sát viên.
Ngày 07 tháng 7 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 293/2023/TLST- HNGĐ ngày 24 tháng 4 năm 2023 về “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 6 năm 2023, Quyết định hoãn phiên toà số 56/2023/QĐST-HNGĐ ngày 27 tháng 6 năm 2023, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Chị Vi Thị D, sinh năm 2001
Địa chỉ: Làng T, xã Ia B, huyện C, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1997
Địa chỉ: Tổ 4 (trước đây là tổ 6), phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 12 tháng 4 năm 2023, bản tự khai và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn là chị Vi Thị D trình bày:
Chị và anh Trần Văn T chung sống với nhau như vợ chồng từ năm 2017 nhưng đến ngày 05/6/2019 mới đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường T, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Trong quá trình chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn do bất đồng quan điểm, vợ chồng thường xuyên cãi nhau, không có tiếng nói chung, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng chị không hàn gắn được, đã sống ly thân một thời gian dài. Hiện nay không ai còn quan tâm gì đến cuộc sống của nhau, vợ chồng không còn yêu thương, quý trọng, chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau để cùng xây dựng gia đình hạnh phúc nên không thể kéo dài cuộc sống chung với nhau được, do vậy chị yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về quan hệ hôn nhân: Yêu cầu giải quyết cho chị được ly hôn với anh Trần Văn T.
Về con chung: Chị và anh Trần Văn T có 01 con chung là cháu Trần Thị Bảo C, sinh ngày 04/8/2018, hiện nay cháu C đang sống cùng anh T. Ly hôn chị yêu cầu Tòa án giao cho anh T được trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục cháu C cho đến khi con thành niên và tự lập được; về cấp dưỡng nuôi con: chị cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con thành niên và tự lập được. Hiện nay chị làm nhân viên thu nhập 10.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bị đơn là anh Trần Văn T mặc dù đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án, nhiều lần Tòa án thông báo đến hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, nên đã không trình bày được quan điểm của anh đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị D được ly hôn với anh Trần Văn T và giao con chung là cháu Trần Thị Bảo C, sinh ngày 04/8/2018 cho anh Trần Văn T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con thành niên và tự lập được; về cấp dưỡng: chị D cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con thành niên và tự lập được. Về tài sản chung và nợ chung: chị D không yêu cầu nên không giải quyết. Chị D phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, nghe lời trình bày của nguyên đơn tại phiên tòa, ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Nguyên đơn chị Vi Thị D yêu cầu ly hôn và tranh chấp về nuôi con với anh Trần Văn T, trú tại: tổ 4, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử xác định quan hệ pháp luật “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố P, tỉnh Gia Lai.
Nguyên đơn chị Vi Thị D vắng mặt và có đơn xin xét xử vắng mặt; bị đơn anh Trần Văn T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn.
Về quan hệ hôn nhân: Chị D và anh T tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo đúng quy định của pháp luật nên đây là hôn nhân hợp pháp. Mâu thuẫn hôn nhân theo chị D trình bày sau khi kết hôn thì giữa chị và anh T đã bất đồng quan điểm, thường xuyên cải vã, đời sống hôn nhân không hạnh phúc, đã được gia đình hai bên hòa giải nhưng vợ chồng vẫn mâu thuẫn gay gắt, đã sống ly thân nhiều năm, chị đã về nhà mẹ đẻ sinh sống. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú trước đây thì chị D và anh T không yêu cầu chính quyền địa phương hòa giải nên chính quyền địa phương không biết mâu thuẫn của vợ chồng anh chị. Qua xác minh mẹ của anh T là bà Đặng Thị Lan A cung cấp thì hiện anh T và chị D sống ly thân nhiều năm, anh T và cháu C đang sống cùng bà tại tổ 4, phường C, thành phố P, tỉnh Gia Lai. Bị đơn anh T mặc dù đã được Tòa án triệu tập nhiều lần đến để tham gia hòa giải, phiên tòa nhưng anh không đến, thể hiện thái độ bỏ mặc, không quan tâm đến việc tiếp tục duy trì cuộc sống vợ chồng với chị D. Hội đồng xét xử xét thấy chị D và anh T đã không còn chung sống với nhau, không ai quan tâm lo lắng, chăm sóc cho nhau, tình trạng hôn nhân giữa anh chị như vậy là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị D theo quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về việc nuôi con: chị D và anh T có 01 con chung là cháu Trần Thị Bảo C, sinh ngày 04/8/2018, hiện cháu C đang sống cùng T. Chị D khai từ khi chị và anh T sống ly thân, chị về nhà mẹ chị sinh sống thì anh T là người chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cháu C, do đó chị có nguyện vọng giao cháu C cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên. Xét thấy yêu cầu của chị D là có căn cứ và để đảm bảo cuộc sống ổn định của cháu C, cần giao cho anh T nuôi dưỡng cho đến khi cháu thành niên là phù hợp. Qua xác minh tại chính quyền địa phương nơi anh T sinh sống và mẹ của anh T thì hiện nay anh T đang nuôi dưỡng cháu C, anh T đang trong độ tuổi lao động, có công việc ổn định, đảm bảo đủ điều kiện để trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị D, giao cháu C cho anh T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục cho đến khi cháu thành niên và tự lập được là phù hợp với quy định tại Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.
Về cấp dưỡng nuôi con: Chị D đồng ý cấp dưỡng nuôi cháu C 3.000.000 đồng/tháng cho đến khi con thành niên, do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu này của chị D.
Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Chị D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị D phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn, án phí cấp dưỡng nuôi con.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, khoản 1, 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng khoản 1 Điều 56, các Điều 57, 81, 82, 83, 84, 110, 116, 117 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Vi Thị D, cụ thể như sau:
1. Về hôn nhân: Chị Vi Thị D ly hôn với anh Trần Văn T.
2. Về việc nuôi con: Giao cho anh Trần Văn T trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung là cháu Trần Thị Bảo C, sinh ngày 04/8/2018 cho đến khi thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình.
Người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Nếu người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.
Trên cơ sở lợi ích của con, các đương sự có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc thay đổi mức cấp dưỡng nuôi con.
3. Về cấp dưỡng nuôi con: chị Vi Thị D có nghĩa vụ cấp dưỡng cho cháu cháu Trần Thị Bảo C, sinh ngày 04/8/2018 là 3.000.000đ (Ba triệu đồng)/tháng cho đến khi con thành niên hoặc đã thành niên mất năng lực hành vi dân sự hoặc không có khả năng lao động và không có tài sản để tự nuôi mình, thời gian cấp dưỡng tính từ tháng 7 năm 2023.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
4. Về án phí: Chị Vi Thị D phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn và 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm về cấp dưỡng, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng, theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0000146 ngày 24 tháng 4 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố P. Chị Vi Thị D còn phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc được niêm yết công khai, nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Gia Lai; - VKSND thành phố P; - Chi cục THADS thành phố P; - UBND phường T, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai (GCNKH số 40, ngày 05/6/2019); - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Nguyễn Thị Kim Thu |