vanban.org

Bản án 55/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 28/03/2023 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị Q, cụ thể:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mạc Thị Q được ly hôn anh Lê Đức H. Về con chung: Giao 03 con chung là Lê Mạc Bảo P, sinh ngày 08/4/2008; Lê Mạc Bảo H1, sinh ngày 24/7/2013 và Lê Mạc Bảo C, sinh ngày 29/11/2019 cho chị Mạc Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Mạc Thị Q - Lê Đức H"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị Q, cụ thể:
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 127 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST
Ngày 28-3-2023
V/v tranh chấp ly hôn,
nuôi con khi ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Vũ Thị Thu Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

Ông Đặng Huy Du

- Thư ký phiên tòa: Bà Phạm Thị Mai Phương - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 28 tháng 3 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 47/2023/TLST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2023 về tranh chấp ly hôn, nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 15 tháng 3 năm 2023, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Mạc Thị Q, sinh năm 1982; địa chỉ cư trú: QK, phường HĐ, quận ĐS, thành phố Hải Phòng.

- Bị đơn: Anh Lê Đức H, sinh năm 1982; ĐKHKTT: QK, phường HĐ, quận ĐS, thành phố Hải Phòng; hiện cư trú tại: Flat 3, 3IF 261A Kilung Street Sham Shui Po, Hồng Kông.

Chị Mạc Thị Q, anh Lê Đức H đều vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và bản tự khai, nguyên đơn là chị Mạc Thị Q trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H quyết định kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng vào ngày 17/3/2008. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hòa thuận, hạnh phúc đến tháng 5/2022 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, không còn tin tưởng nhau. Chị đã nhiều lần khuyên bảo, nhẫn nhịn chịu đựng nhưng mâu thuẫn không được giải quyết. Từ tháng 5/2022 đến nay anh, chị đã sống ly thân không còn quan tâm đến nhau. Gia đình hai bên nhiều lần hòa giải nhưng đều không có kết quả. Chị Q thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung của vợ chồng không còn hạnh phúc, vợ chồng không còn thương yêu chăm sóc nhau nên chị Q làm đơn khởi kiện đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đức H.

Về con chung: Anh H và chị Q có 03 con chung tên là Lê Mạc Bảo P, sinh ngày 08/4/2008; Lê Mạc Bảo H1, sinh ngày 24/7/2013 và Lê Mạc Bảo C, sinh ngày 29/11/2019. Khi ly hôn, chị Q đề nghị Tòa án giao cả 3 con cho chị trực tiếp nuôi dưỡng vì các cháu còn nhỏ, các cháu có nguyện vọng được ở với mẹ và muốn ở cùng với nhau. Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Q và anh H sẽ tự thỏa thuận nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Về tài sản chung: Chị Q và anh H tự thỏa thuận nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết

Trong đơn xin ly hôn và đơn xin xét xử vắng mặt của bị đơn là anh Lê Đức H đã được hợp pháp hóa lãnh sự, trình bày:

Anh Lê Đức H thống nhất với lời trình bày của chị Mạc Thị Q về việc kết hôn, chung sống, nguyên nhân mâu thuẫn vợ chồng. Anh xác nhận, đến nay tình cảm vợ chồng không còn, anh chị sống mỗi người mỗi nơi nên anh đồng ý và đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho anh được ly hôn với chị Mạc Thị Q. Do anh Lê Đức H ở Hồng Kông không thể về Việt Nam giải quyết việc ly hôn được nên anh đề nghị Tòa án không tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án, xét xử vắng mặt, anh đã ủy quyền cho chị Lê Thị Mai Lương (em gái của anh H) nhận thay tất cả các văn bản tố tụng, quyết định và bản án của Tòa án.

Về con chung: Anh H và chị Q có 03 con chung là Lê Mạc Bảo P, sinh ngày 08/4/2008, Lê Mạc Bảo H1, sinh ngày 24/7/2013 và Lê Mạc Bảo C, sinh ngày 29/11/2019. Anh H và chị Q đều thống nhất giao con chung cho chị Q chăm sóc. Các con chung cũng đều nhất trí với đề nghị của chị Q và anh H. Về cấp dưỡng, chị Q và anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Q và anh H không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Do chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H đề nghị không tiến hành hòa giải theo quy định tại khoản 4 Điều 207 của Bộ luật Tố tụng dân sự, nên Tòa án không tiến hành hòa giải vụ án được.

Tại phiên tòa, chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H vắng mặt, chủ tọa phiên tòa đã công bố lý do đương sự vắng mặt, công bố tóm tắt nội dung vụ án và tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thể hiện quan điểm giải quyết vụ án của các đương sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền giải quyết: Chị Mạc Thị Q cư trú tại thành phố Hải Phòng có đơn đề nghị Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng giải quyết cho chị được ly hôn với anh Lê Đức H hiện đang cư trú tại Hồng Kông. Theo quy định tại khoản 3 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn là chị Mạc Thị Q và bị đơn là anh Lê Đức H vắng mặt tại phiên tòa, có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại UBND xã Tam Đa, huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng ngày 17/3/2008, theo quy định tại Điều 9, Điều 11 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2000 đây là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo các tài liệu có trong hồ sơ thể hiện do chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H bất đồng quan điểm sống, không còn tin tưởng nhau nên anh chị đã phát sinh mâu thuẫn dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn, không có khả năng đoàn tụ gia đình. Như vậy, chứng tỏ mâu thuẫn giữa chị Q và anh H đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, việc chị Q xin ly hôn với anh H và được anh H hoàn toàn đồng ý phù hợp với quy định của pháp luật. Vì vậy, Hội đồng xét xử cần áp dụng Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 xử cho chị Mạc Thị Q được ly hôn anh Lê Đức H

Về con chung: Chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H có 03 con chung tên là Lê Mạc Bảo P, sinh ngày 08/4/2008; Lê Mạc Bảo H1, sinh ngày 24/7/2013 và Lê Mạc Bảo C, sinh ngày 29/11/2019. Chị Q và anh H đều thống nhất giao con chung cho chị Q chăm sóc, nuôi dưỡng và phù hợp với ý kiến của các con chung. Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của chị Q và anh H, giao cả 03 con chung cho chị Mạc Thị Q chăm sóc và nuôi dưỡng cho đến khi các con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật. Về cấp dưỡng, chị Q không yêu cầu anh H phải cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử tạm thời không xem xét giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H không có tài sản chung, không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

- Về án phí ly hôn sơ thẩm:

Chị Mạc Thị Q là nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

- Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 37, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 4 Điều 207, khoản 1 Điều 227, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 266, Điều 273, điểm d khoản 1 Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 127 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Mạc Thị Q, cụ thể:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Mạc Thị Q được ly hôn anh Lê Đức H.

2. Về con chung: Giao 03 con chung là Lê Mạc Bảo P, sinh ngày 08/4/2008; Lê Mạc Bảo H1, sinh ngày 24/7/2013 và Lê Mạc Bảo C, sinh ngày 29/11/2019 cho chị Mạc Thị Q trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi con đủ 18 tuổi hoặc có sự thay đổi khác theo quy định của pháp luật.

Việc cấp dưỡng nuôi con: Chị Mạc Thị Q không yêu cầu nên tạm thời Tòa án không giải quyết.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở, người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung: Chị Mạc Thị Q và anh Lê Đức H không có tài sản chung, không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

4. Về án phí: Chị Mạc Thị Q phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp 300.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006354 ngày 27/02/2023 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng, chị Q đã nộp đủ.

5. Về quyền kháng cáo của các đương sự:

Chị Mạc Thị Q được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Anh Lê Đức H được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án Dân sự thì người được thi hành, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ