vanban.org

Bản án 55/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Phượng H. Xử cho chị Nguyễn Phượng H được ly hôn với anh Đồng Minh T.

Về con chung: Giao con chung tên Đồng Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/4/2016 và Đồng Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2018 cho chị Nguyễn Phượng H tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đồng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở. Về tài sản … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Phượng H. Xử cho chị Nguyễn Phượng H được ly hôn với anh Đồng Minh T.
  • Căn cứ chính? Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀ ÔN
TỈNH VĨNH LONG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55 /2023/HNGĐ-ST
Ngày: 16-6-2023
V/v tranh chấp ly hôn và con chung

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀ ÔN, TỈNH VĨNH LONG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Hoàng Phú

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hiểu

2. Bà Lê Thị Trúc Linh

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Kiều Phƣơng – Thư ký Tòa án nhân nhân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long tham gia phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Trúc Ly – kiểm sát viên

Ngày 16 tháng 6 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Trà Ôn, tỉnh Vĩnh Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 506/2022/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 11 năm 2022, về việc “Tranh chấp ly hôn và con chung ” theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 60/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Phƣợng H, sinh năm 1988 “có đơn đề nghị xét xử vắng mặt”.

Địa chỉ: ấp GTB, xã TM, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long.

2. Bị đơn: Anh Đồng Minh T, sinh năm 1984 “vắng mặt”.

Địa chỉ: ấp GTB, xã TM, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, bản tự khai ngày 15 tháng 11 năm 2022 và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại pH tòa nguyên đơn chị Nguyễn Phượng H trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: chị và anh T thành hôn vào năm 2015 có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tích Thiện, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 26/02/2015. Thời gian chung sống được 07 năm, lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau này phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, hiện vợ chồng đã ly thân từ tháng 8/2022 đến nay. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T.

- Về con chung: chị và anh T có 02 con chung tên Đồng Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/4/2016 và Đồng Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2018, hiện đang sống với chị. Nay chị yêu cầu được nuôi con chung và yêu cầu anh T có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con mỗi tháng 3.000.000đ/tháng đối với mỗi đứa con.

- Về tài sản chung: không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án có thông báo thụ lý, thông báo về pH họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Tòa án đã triệu tập các đương sự tham gia phiên họp và phiên hòa giải nhiều lần nhưng bị đơn không trình bày ý kiến bằng văn bản cho Tòa án biết và không đến Tòa án để tham gia phiên hòa giải với nguyên đơn nên không tiến hành hòa giải được giữa nguyên đơn và bị đơn. Đến khi Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và triệu tập bị đơn đến tham gia phiên tòa nhiều lần nhưng bị đơn vẫn vắng mặt không lý do.

Tại phiên tòa: Chị H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, chị H giữ nguyên yêu cầu ly hôn đối với anh T, về con chung chị yêu cầu tiếp tục nuôi cả hai con và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con.

Bị đơn anh T vắng mặt không lý do.

Vị đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng của Tòa án và phát biểu ý kiến về việc giải quyết vụ án: Tòa án thực hiện đúng theo quy định pháp luật.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Phượng H về việc ly hôn với bị đơn anh Đồng Minh T.

Về con chung: Giao con chung Đồng Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/4/2016 và Đồng Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2018 cho chị Nguyễn Phượng H nuôi dưỡng. Anh Đồng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Đương sự không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Phượng H có nghĩa vụ nộp 300.000 đồng án phí ly hôn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Về quyền yêu cầu của đương sự: Nguyên đơn có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 51 Luật hôn nhân và gia đình.

[1.2] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Trường hợp này là vụ án tranh chấp ly hôn và con chung do bị đơn anh Đồng Minh T có địa chỉ tại ấp GTB, xã TM, huyện TO, tỉnh Vĩnh Long, căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện TO.

[ 1.3] Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Phượng H có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Bị đơn anh Đồng Minh T đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng bị đơn vắng mặt không lý do. Áp dụng điểm b, khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo luật định.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Nguyên đơn chị Nguyễn Phượng H và bị đơn anh Đồng Minh T thành hôn và có đăng ký kết hôn vào ngày 26/02/2015 tại Ủy ban nhân dân xã Tích Thiện, huyện TO trên cơ sở tự nguyện nên quan hệ hôn nhân của anh, chị là hợp pháp.

Xét trong quá trình chung sống lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau phát sinh mâu thuẩn do không hợp nhau nên nguyên và bị đơn đã ly thân từ tháng 08/2022 đến nay, thời gian ly thân không ai tạo điều kiện đoàn tụ. Nay nguyên đơn xác định tình cảm vợ chồng không còn và yêu cầu được ly hôn cùng bị đơn, sau khi thụ lý vụ án Tòa án đã triệu tập bị đơn đến tham gia phiên họp, hòa giải và xét xử nhiều lần nhưng bị đơn không đến nên Tòa án không tiến hành hòa giải được, từ đó cho thấy tình trạng hôn nhân giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn được ly hôn cùng bị đơn là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Nguyễn Phượng H và anh Đồng Minh T có 02 con chung tên Đồng Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/4/2016 và Đồng Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2018 hiện đang sống cùng chị H. Nay chị yêu cầu được nuôi con chung là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ theo lời trình bày của chị H từ khi chị và anh T ly thân thì con sống với chị, việc nuôi con của chị cũng đảm B về điều kiện nuôi con, trong thời gian giải quyết vụ án anh T không có ý kiến hay văn bản nào trình bày nguyện vọng được nuôi con. Nên tiếp tục giao con chung tên 02 con chung tên Đồng Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/4/2016 và Đồng Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2018 cho chị Nguyễn Phượng H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại các điều 81, 83 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

Xét về cấp dưỡng nuôi con đây là quyền và nghĩa vụ của cha, mẹ đối với con. Tuy nhiên chị H không yêu cầu gì đối với anh T về việc cấp dưỡng nuôi con, anh T không có ý kiến hay văn bản nào đề nghị được cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét. Nếu sau này chị H có yêu cầu thì Tòa án giải quyết bằng vụ án khác là phù hợp theo quy định tại Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014.

[ 2.3] Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Phượng H không yêu cầu và anh Đồng Minh T không có văn bản trình bày ý kiến của mình nên Tòa án không có căn cứ xem xét giải quyết.

[ 2.4] Xét đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện TO là có căn cứ, nên Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát như nhận định trên.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Áp dụng khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án. Buộc chị H có nghĩa vụ nộp 300.000đ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 5, khoản 7 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51 và các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình; khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tóa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Phượng H. Xử cho chị Nguyễn Phượng H được ly hôn với anh Đồng Minh T.

2. Về con chung: Giao con chung tên Đồng Nguyễn Gia B, sinh ngày 26/4/2016 và Đồng Nguyễn Quốc K, sinh ngày 02/9/2018 cho chị Nguyễn Phượng H tiếp tục nuôi dưỡng, anh Đồng Minh T không phải cấp dưỡng nuôi con và có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung không ai được cản trở.

3. Về tài sản chung và nợ chung: chị Nguyễn Phượng H không yêu cầu Tòa án giải quyết anh Đồng Minh T khôngcóvăn bản yêucầu nên Tòa ánkhôngxem xét giảiquyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc chị Nguyễn Phượng H có nghĩa vụ nộp 300.000đ án phí hôn nhân và gia đình. Trừ vào số tiền 300.000đ ( Ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí chị H đã nộp theo biên lai thu số 0003753 ngày 15 tháng 11 năm 2022, chị H đã nộp đủ án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự

Án xử công khai sơ thẩm báo cho chị H, anh T được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ