vanban.org

Bản án 55/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn"
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỚI LAI
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HNGĐ –ST
Ngày: 23 - 5- 2023
V/v: “Ly hôn và nuôi con chung”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỚI LAI – THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Tuyên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Lê Hoàng Long

2/ Bà Trần Thị Minh Hiền

- Thư ký Tòa án - Ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mỹ Tiên

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thới Lai tham gia phiên toà:

Ông Bùi Văn Lƣ - Kiểm sát viên.

Trong ngày 23 tháng 5 năm 2023. Tòa án nhân dân huyện Thới Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 04/2023/TLST- HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2023, Về việc: “Ly hôn và nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 176/2023/QĐXXST-DS ngày 03 tháng 4 năm 2023, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Trƣơng Thị Đ, sinh năm 1978. (Có mặt)

Địa chỉ: ấp Phú T, xã Trường X, huyện Thới L, thành phố C.

Chỗ ở hiện nay: ấp Nhơn Thọ 2, xã Nhơn A, huyện P, thành phố C.

Bị đơn: Ông Ngô Thành T, sinh năm 1976. (Vắng mặt)

Địa chỉ: ấp Phú T, xã Trường X, huyện Thới L, thành phố C.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phía nguyên đơn bà Trương Thị Đ yêu cầu được ly hôn với ông Ngô Thành T.

Bà Trương Thị Đ (nguyên đơn) trình bày: Bà và ông Ngô Thành T kết hôn vào năm 1996, có đăng ký kết hôn trễ hạn tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Xuân, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ vào ngày 25 tháng 8 năm 2003. Sau khi thành hôn thì bà và ông T về chung sống tại ấp Phú Thọ, xã Trường Xuân, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ. Đến năm 2020 thì bà và ông T ly thân nhau cho đến nay. Nguyên nhân mâu thuẫn dẫn đến việc ly thân là do vợ chồng tính tình không hòa hợp, bất đồng quan điểm, ông T không chăm lo gia đình, chung sống không hạnh phúc. Quá trình chung sống thì bà và ông T có 02 con chung là Ngô Trúc T, sinh ngày 16/9/1997 (đã trưởng thành) và Ngô Ngọc M, sinh ngày 26 tháng 12 năm 2011 hiện do bà đang trực tiếp nuôi dưỡng. Nay và xác định không còn tình cảm vợ chồng với ông T nên xin ly hôn với ông Ngô Thành T.

Về con chung: Bà yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Ngô Ngọc M mà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà và ông T không có tài sản chung cũng như nợ chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Ông Ngô Thành T là bị đơn trong vụ án không có mặt theo thông báo và triệu tập của Tòa án, không cung cấp văn bản nêu ý kiến đối với yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn nên không có lời khai.

Ngô Ngọc M có lời khai: Là con của ông T và bà Đ, cha mẹ ly hôn có nguyện vọng được sống với mẹ.

Ý kiến của kiểm sát viên:

Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán cũng như Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa từ khi thụ lý vụ án đến trước khi nghị án thực hiện đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật. Bị đơn vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai mặc dù đã được triệu tập xét xử hợp lệ.

Về quan điểm giải quyết vụ án: Yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có cơ sở để chấp nhận toàn bộ. (Có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Ông Ngô Thành T là bị đơn trong vụ án vắng mặt tại phiên tòa sơ thẩm đến lần thứ hai mặc dù đã được Tòa án triệu tập xét xử hợp lệ. Tòa án căn cứ vào Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt là phù hợp.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Thị Đ và ông Ngô Thành T có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Trường Xuân, huyện Thới Lai, thành phố Cần Thơ nên được xem là hôn nhân hợp pháp.

Tại phiên tòa sơ thẩm bà Trương Thị Đ vẫn giữ yêu cầu xin ly hôn với ông Ngô Thành T. Đối với ông Ngô Thành T thì từ lúc Tòa án thụ lý vụ án đến nay, Tòa án đã cấp tống đạt các văn bản tố tụng theo đúng trình tự thủ tục do pháp luật quy định nhưng ông Trương Thành T vẫn vắng mặt tại phiên tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải không rõ lý do. Vấn đề này thấy rằng: Ông T không có mặt để tham gia phiên hòa giải cũng như phiên tòa xét xử cho thấy ông T không còn quan tâm đến vấn đề hôn nhân giữa ông và bà Trương Thị Đ. Xét mâu thuẩn vợ chồng của bà Đ và ông T đã đến mức trầm trọng, thời gian ly thân đã lâu, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nếu tiếp tục chung sống không đem lại hạnh phúc cho cả hai. Hội đồng xét xử nghĩ cần chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Đ. Cho bà Trương Thị Đ ly hôn với ông Ngô Thành T là đúng với thực tế và phù hợp với quy định của pháp luật.

Về con chung: Ngô Trúc T đã trưởng thành nên không xem xét giải quyết. Ngô Ngọc M đang do bà Đ trực tiếp nuôi dưỡng, cháu M có nguyện vọng được sống chung với bà Đ, bà Đ cũng có yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng con chung là Ngô Ngọc M mà không yêu cầu ông T phải cấp dưỡng nuôi con. Do đó, cần giao Ngô Ngọc M cho bà Trương Thị Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, ông Ngô Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con là phù hợp.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Đ khai không có tài sản chung và nợ chung với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Dành cho ông Ngô Thành T một vụ kiện khác liên quan đến yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).

Veà aùn phí hoân nhaân sô thaåm: Cần buộc bà Trương Thị Đ chịu noäp theo quy ñònh cuûa phaùp luaät.

Vì các lẽ trên;

QUYEÁT ÑÒNH

Áp dụng Điều 28, 35,39, Khoản 4 Điều 147, 227 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Aùp duïng Điều 56, 82, 83, 84 cuûa Luaâät Hoân nhaân vaø Gia ñìnhï;

Áp dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà Trương Thị Đ. Cho bà Trương Thị Đ và ông Ngô Thành T được ly hôn với nhau.

Về con chung: Giao Ngô Ngọc M, sinh ngày 26/12/2011 cho bà Trương Thị Đ tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng đến trưởng thành. Ông Ngô Thành T không phải cấp dưỡng nuôi con.

Ông Ngô Thành T được quyền lui tới thăm nom và chăm sóc con chung, không ai được ngăn cản.

Vì quyền và lợi ích mọi mặt của con chung, Tòa án có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con khi có yêu cầu của cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản chung và nợ chung: Bà Trương Thị Đ khai không có tài sản chung và nợ chung với ông T, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Dành cho ông Ngô Thành T một vụ kiện khác liên quan đến yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, tài sản chung và nợ chung (nếu có).

Về án phí: Buộc bà Trương Thị Đ chòu nộp 300.000 ñoàng aùn phí hoân nhaân sô thaåm. Chuyển 300.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0005935 ngày 29/12/2022 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Thới Lai thành tiền án phí.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tiếp theo của ngày tuyên án hoặc kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết tại ủy ban nhân dân địa phương đối với đương sự vắng mặt để Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo trình tự phúc thẩm./.

Cỡ chữ