- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Xuyên - Hoa"
- Tòa quyết gì? [1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thạch X được ly hôn với chị Lê Thị Tuyết H.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH VĨNH LONG Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST Ngày: 29-05-2023 |
“V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con”
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM BÌNH, TỈNH VĨNH LONG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bảo
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Văn Mua
2. Ông Trần Văn Bé Hai
- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Chanh Thu – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Bình tham gia phiên toà: Không.
Trong ngày 29 tháng 05 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long đã xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 77/2023/TLST-HNGĐ, ngày 27/02/2023 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2023/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18/04/2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2023/QĐST-HNGĐ, ngày 11/05/2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Trần Thạch X, sinh năm 1994 (xin vắng)
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
- Bị đơn: Chị Lê Thị Tuyết H, sinh năm 1998 (vắng mặt)
Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Trong đơn khởi kiện đề ngày 02/12/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn anh Trần Thạch X trình bày:
Vào năm 2020 qua quen biết, anh và chị Lê Thị Tuyết H có chung sống với nhau như vợ chồng nhưng không có làm lễ cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long ngày 14/04/2020.
Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống ở ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc kéo dài đến năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do thường X bất đồng ý kiến với nhau trong đời sống gia đình, làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa, dù anh đã tìm nhiều giải pháp để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không được. Vợ tự ý bỏ nhà đi, anh không biết đi đâu, không liên lạc được, không lo gì cho các con, anh phải tự nuôi con từ lúc vợ đi và vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không hàn gắn được chuyện gia đình nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Tuyết H.
Về con chung: Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi 02 con chung là Trần Ngọc Q, sinh ngày 25/07/2020, Trần Khả A, sinh ngày 15/11/2021, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con.
Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Bị đơn chị Lê Thị Tuyết H vắng mặt trong suốt quá trình giải quyết vụ án nên không trình bày.
- Ngày 18/04/2023, nguyên đơn anh Trần Thạch X có đơn xin vắng mặt, chị có ý kiến trình bày: Anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Tuyết H. Về con chung: Khi ly hôn anh yêu cầu nuôi 02 con chung là Trần Ngọc Q, sinh ngày 25/07/2020, Trần Khả A, sinh ngày 15/11/2021, không yêu cầu chị H cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Ngoài các yêu cầu trên, các đương sự không có yêu cầu nào khác và cũng không có cung cấp tài liệu, chứng cứ mới tại phiên tòa.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về pháp luật tố tụng:
Nguyên đơn anh Trần Thạch X khởi kiện yêu cầu ly hôn, nuôi con nên đây là quan hệ pháp luật tranh chấp về “Ly hôn, nuôi con”; bị đơn chị Lê Thị Tuyêt H cư trú tại xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Nguyên đơn anh Trần Thạc X có đơn đề nghị Tòa án xét xử vụ án vắng mặt; bị đơn chị Lê Thị Tuyết H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử thống nhất đưa vụ án ra xét xử vắng mặt các đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Về pháp luật nội dung:
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Thạch X và chị Lê Thị Tuyết H qua quen biết tìm hiểu nhau năm 2020 rồi đi đến hôn nhân, không có tổ chức lễ cưới và sau có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long vào ngày 14/04/2020 nên được pháp luật công nhận là hôn nhân hợp pháp.
Theo anh Trần Thạch X trình bày: Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống ở ấp A, xã B, huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Lúc đầu vợ chồng sống hạnh phúc kéo dài đến năm 2022 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn do thường X bất đồng ý kiến với nhau trong đời sống gia đình, làm cho tình cảm vợ chồng không còn nữa, dù anh đã tìm nhiều giải pháp để hàn gắn tình cảm gia đình nhưng không được. Vợ tự ý bỏ nhà đi, anh không biết đi đâu, không liên lạc được, không lo gì cho các con, anh phải tự nuôi con từ lúc vợ đi và vợ chồng sống ly thân từ tháng 10/2022 cho đến nay. Nay anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, không hàn gắn được chuyện gia đình nên anh yêu cầu được ly hôn với chị Lê Thị Tuyết H.
Xét thấy, quan hệ hôn nhân của vợ chồng phải được xây dựng trên cơ sở tình cảm tự nguyện, có sự quan tâm chăm sóc lẫn nhau, vun đắp hạnh phúc, làm tròn quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, xây dựng hạnh phúc gia đình, lo cho con cái phát triển về thể chất và tinh thần. Tuy nhiên hiện tại vợ chồng anh X, chị H đã sống ly thân, mạnh ai nấy sống, không còn quan tâm, chăm sóc lẫn nhau. Chị H và anh X đã ly thân từ tháng 10/2022 đến nay, vợ chồng không liên lạc để không đoàn tụ được. Qua đó cho thấy hôn nhân của của anh X và chị H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh X được ly hôn với chị H là phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014: “... Tòa án giải quyết cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ, chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[2]. Về con chung: Anh Trần Thạch X khai có con chung với chị Lê Thị Tuyết H là Trần Ngọc Q, sinh ngày 25/07/2020, Trần Khả A, sinh ngày 15/11/2021 và yêu cầu được nuôi con.
Xét thấy việc quyết định giao con cho người cha hoặc người mẹ nuôi dưỡng sau khi ly hôn cần phải dựa trên quyền lợi về mọi mặt của người con, về điều kiện trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Vợ, chồng thỏa thuận về người trực tiếp nuôi con, nghĩa vụ, quyền của mỗi bên sau khi ly hôn đối với con; trường hợp không thỏa thuận được thì Tòa án quyết định giao con cho một bên trực tiếp nuôi căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con”. Ngoài ra theo quy định tại khoản 3 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Con dưới 36 tháng tuổi được giao cho mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, trừ trường hợp người mẹ không đủ điều kiện để trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con hoặc cha mẹ có thỏa thuận khác phù hợp với lợi ích của con”. Hiện tại anh X là người trực tiếp nuôi dưỡng con chung và các cháu đều dưới 36 tháng tuổi, sống chung với anh X từ tháng 10/2022 cho đến nay. Do đó để đảm bảo quyền lợi và sự phát triển của cháu, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thạch X là giao các cháu Trần Ngọc Q, sinh ngày 25/07/2020, Trần Khả A, sinh ngày 15/11/2021 cho anh Trần Thạch X tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục là phù hợp với quy định của pháp luật.
Chị Lê Thị Tuyết H được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Anh Trần Thạch X khai chưa yêu cầu, chị Lê Thị Tuyết H cũng chưa có văn bản nào trình bày về việc cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Anh Trần Thạch X khai chưa yêu cầu, chị Lê Thị Tuyết H cũng chưa có văn bản nào trình bày về tài sản chung, nợ chung, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227, 228, 238, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2019;
Căn cứ các Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ vào Điều 27 của Nghị quyết số 326, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
[1]. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu của anh Trần Thạch X được ly hôn với chị Lê Thị Tuyết H.
[2]. Về con chung: Giao các cháu Trần Ngọc Q, sinh ngày 25/07/2020, Trần Khả A, sinh ngày 15/11/2021 cho anh Trần Thạch X tiếp tục nuôi dưỡng, giáo dục.
Chị Lê Thị Tuyết H được quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được quyền cản trở.
[3]. Về cấp dưỡng nuôi con: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
[4]. Về tài sản chung, nợ chung: Do chưa có yêu cầu, nên không đặt ra giải quyết.
[5]. Về án phí: Anh Trần Thạch X phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về việc xin ly hôn là 300.000đ nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số No 0011251 ngày 27/02/2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Bình, tỉnh Vĩnh Long. Anh Trần Thạch X đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án; quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
[6]. Về quyền kháng cáo: Các đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Vĩnh Long; - VKSND huyện Tam Bình; - CCTHADS huyện Tam Bình; - UBND xã B, huyện Tam Bình; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Văn Bảo |