- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Kim Ng - Trần Văn T"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Kim Ng được ly hôn với anh Trần Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 178 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 179 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST Ngày: 25-5-2023 “V/v ly hôn, yêu cầu nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN GÒ QUAO, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Danh Thị Kiều Oanh Các Hội thẩm nhân dân: bà Trương Kim Ánh
Bà Lương Thị Hồng Hạnh
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Gò Quao tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cúc – Kiểm sát viên.
Trong ngày 25 tháng 5 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 462/2022/TLST-HNGĐ ngày 15 tháng 11 năm 2022 về “ly hôn, yêu cầu nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 45/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2023 giữa:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Kim Ng, sinh năm 1993 (có mặt)
Nơi cư trú: 30/7/3 đường Nguyễn Công T, phường V, thành phố R, tỉnh Kiên Giang.
Bị đơn: Anh Trần Văn T, sinh năm 1990 (vắng mặt)
Nơi cư trú: khu phố Ph, thị trấn G, huyện G, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 15/11/2022, bản tự khai và lời trình bày của nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Ng như sau:
Vào năm 2017 chị và anh T tự quen biết, tìm hiểu nhau và có tình cảm với nhau rồi tiến tới hôn nhân, anh chị có tổ chức đám cưới và có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Gò Quao ngày 15/3/2018. Sau khi cưới, chị sống chung với gia đình của anh T, thời gian chung sống chị không hợp với anh T và gia đình anh T về quan điểm sống nên chị và anh T thuê nhà trọ ở Rạch Giá ở và đi làm, sau khi anh T sống chung với chị ở nhà trọ được thời gian ngắn thì anh T lại bộc lộ tính không quan tâm vợ con, không cho chị đi làm, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc và anh T đã bỏ về nhà cha mẹ ruột sống ly thân với chị từ khoảng tháng 7/2019 đến nay. Trong thời gian ly thân, chị và anh T không có liên lạc và cả hai người cũng không muốn hàn gắn hôn nhân này nữa vì cả hai người đã không còn tình cảm với nhau. Thời gian ly thân đã lâu, giữa chị và anh T cũng đã suy nghĩ rất kỹ nên chị muốn được ly hôn với anh T.
Chị và anh T có một người con chung tên Trần Minh Th, sinh ngày 01/7/2018, do chị trực tiếp nuôi dưỡng từ khi vợ chồng ly thân từ tháng 7/2019 đến nay. Chị xác định chị và anh T không có tài sản chung và cũng không có nợ chung.
Tại phiên tòa, chị Ng yêu cầu Tòa án giải quyết về hôn nhân chị yêu cầu được ly hôn với anh Trần Văn T; Về con chung chị yêu cầu được nuôi con chung Trần Minh Th, sinh ngày 01/7/2018 và không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung và nợ chung không có nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
* Đối với bị đơn anh Trần Văn T không có mặt tại phiên tòa: Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt đầy đủ các văn bản tố tụng theo đúng quy định pháp luật nhưng anh T không có mặt cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án nên Tòa án không thể ghi nhận ý kiến hay bất cứ yêu cầu nào của anh.
Đại diện Viện Kiểm sát tham gia phiên tòa phát biểu quan điểm:
Về việc tuân theo pháp luật tố tụng: Tòa án thụ lý, giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền, xác định đúng quan hệ pháp luật tranh chấp, người tham gia tố tụng; việc thu thập tài liệu, chứng cứ, cấp tống đạt văn bản tố tụng cho người tham gia tố tụng và Viện kiểm sát đúng quy định. Tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử, Thư ký và nguyên đơn chấp hành đúng và đầy đủ các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được thông báo, tống đạt các văn bản tố tụng đúng quy định nhưng đều vắng mặt là không tuân thủ quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 56, Điều 81, Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014: Tuyên xử chấp cho chị Nguyễn Thị Kim Ng được ly hôn với anh Trần Văn T. Về con chung giao con chung Trần Minh Th, sinh ngày 01/7/2018 cho chị Ng tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Về cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung chị Ng không yêu cầu tòa án giải quyết, do đó không đề nghị xem xét.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ và toàn diện các chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Kim Ng yêu cầu ly hôn với anh Trần Văn T, chị Ng yêu cầu nuôi con nên xác định quan hệ pháp luật là “ly hôn, yêu cầu nuôi con” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang theo quy định tại Điều 28, Điều 35 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015.
Anh Trần Văn T với tư cách là bị đơn trong vụ án đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do nên căn cứ khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án vẫn được xét xử theo quy định.
Về hôn nhân: chị Ng và anh T quen biết tìm hiểu nhau được một thời gian thì tự nguyện có tổ chức đám cưới với nhau và anh chị có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Gò Quao, huyện Gò Quao số 17 vào ngày 15/3/2018 theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì hôn nhân của anh chị là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.
Xét yêu cầu của chị Ng được ly hôn với anh T vì lý do vợ chồng bất đồng quan điểm sống, anh T không quan tâm vợ con, không cho chị đi làm, từ đó vợ chồng thường xuyên cãi nhau làm cho đời sống hôn nhân không còn hạnh phúc nên anh chị sống ly thân từ tháng 7/2019 đến nay. Đối với anh T, Tòa án đã nhiều lần tống đạt và thông báo hợp lệ các văn bản tố tụng trong đó có 02 lần tống đạt Thông báo mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để điều kiện cho vợ chồng anh chị hòa giải, đoàn tụ với nhau nhưng anh T đều không có mặt nên Tòa án không tiến hành mở phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải được.
Tại phiên tòa, chị Ng khai rõ trong thời gian ly thân chị và anh T không gặp nhau nên không thể hàn gắn đời sống hôn nhân được nữa và chị không còn tình cảm với anh T, chị Ng cũng tỏ rõ thái độ cương quyết ly hôn với anh T. HĐXX thấy rằng, do trước khi kết hôn anh chị đã không tìm hiểu kỹ cá tính của nhau nên sau thời gian chung sống giữa chị Ng và anh T mới phát sinh sự bất đồng quan điểm và không còn duy trì được tình yêu thương dành cho nhau nên khi xảy ra mâu thuẫn không giải quyết được dẫn đến tranh chấp kéo dài làm cho tình trạng hôn nhân trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Ng là phù hợp.
Về con chung: Chị Ng khai vợ chồng chị có một người con chung tên Trần Minh Th, sinh ngày 01/7/2018. Chị Ng yêu cầu được tiếp tục nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung. Xét thấy từ khi anh chị ly thân đến nay, chị Ng là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Trần Minh Th và hiện nay Trần Minh Th vẫn phát triển bình thường về mọi mặt. Hội đồng xét xử xét thấy, yêu cầu của chị Ng là phù hợp với thực tế, không trái đạo đức xã hội và đúng quy định pháp luật, do đó HĐXX chấp nhận.
Về cấp dưỡng: Chị Ng không yêu cầu anh T cấp dưỡng nuôi con nên HĐXX không xem xét.
Về tài sản chung và nợ chung: Chị Ng xác định vợ chồng không có tài sản chung và cũng không có nợ chung nên chị Ng không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, HĐXX không xem xét.
Đối với bị đơn anh T qua thẩm tra xác minh trong quá trình giải quyết vụ án cho thấy, anh T vẫn còn đăng ký thường trú tại địa phương nhưng anh T đi làm ít ở nhà nên Tòa án không thể trực tiếp thực hiện việc cấp, tống đạt văn bản tố tụng cho anh T. Do đó, Tòa án đã tiến hành tống đạt các văn bản tố tụng đầy đủ niêm yết theo đúng theo quy định tại Điều 178 Bộ luật tố tụng dân sự nhưng anh T vẫn vắng mặt không có lý do và cũng không cung cấp bản tự khai cho Tòa án thể hiện ý kiến của mình liên quan đến nội dung vụ án nên Hội đồng xét xử không thể xem xét nguyện vọng của anh T.
Xét ý kiến đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là có căn cứ phù hợp với quy định pháp luật nên HĐXX chấp nhận.
Về án phí: Án phí ly hôn bằng 300.000 đồng, chị Nguyễn Thị Kim Ng phải nộp do có yêu cầu.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 28, Điều 35, Điều 178, Điều 179, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 9, Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014; Điều 27 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
1. Về hôn nhân: Chấp nhận cho chị Nguyễn Thị Kim Ng được ly hôn với anh Trần Văn T.
2. Về con chung: Giao Trần Minh Th, sinh ngày 01/7/2018 cho chị Nguyễn Thị Kim Ng nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở. Anh chị có quyền làm đơn yêu thay đổi quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
3. Về tài sản chung, nợ chung và cấp dưỡng: Miễn xét
4. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Kim Ng phải nộp án phí là 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) nhưng được khấu trừ vào số tiền 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001819 ngày 15/11/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Gò Quao, tỉnh Kiên Giang. Như vậy, Chị Ng đã nộp xong án phí HNST.
5. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án ngày 25/5/2023. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ hoặc niêm yết theo quy định pháp luật.
TM/. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: -TAND tỉnh; -VKS Gò Quao; -Chi cục THA Gò Quao; -Các đương sự; -Lưu hồ sơ. | (Đã ký) Danh Thị Kiều Oanh |