vanban.org

Bản án 55/2023/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng án lệ số 54/2022/AL. Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Lê Mạnh C. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Anh Lê Mạnh C được ly hôn với Chị Lương Thị Tr. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn Lê Mạnh C - Bị đơn Lương Thị Tr"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng án lệ số 54/2022/AL. Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST
Ngày: 25 - 4 - 2023 “V/v Ly hôn,
tranh chấp về nuôi con khi ly
hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG – TỈNH NGHỆ AN

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Hà Văn Hải.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông La Văn Liệu.

Ông Lộc Văn Việt.

Thư ký phiên tòa: Ông Quang Lương Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Con Cuông – tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 4 năm 2023 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai theo thủ tục thông thường vụ án thụ lý số: 25/2023/TLST-HNGĐ ngày 17 tháng 02 năm 2023 về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 10/2023/QĐXXST-DS ngày 29 tháng 3 năm 2023; Quyết định hoãn phiên toà số 289/2023/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 4 năm 2023 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Lê Mạnh C. sinh năm 1998.

Nơi cư trú: Thôn ThKh, xã CKh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Có mặt.

Bị đơn: Chị Lƣơng Thị Tr, sinh năm 2000.

Nơi cư trú: Thôn ThKh, xã ChKh, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện (đơn xin ly hôn) ngày 20/01/2023 và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, nguyên đơn Anh Lê Mạnh C trình bày:

- Về tình cảm: Giữa anh Lê Mạnh C và bị đơn chị Lương Thị Tr kết hôn với nhau vào ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại UBND xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc cho đến thời gian năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau. Nguyên nhân là do quan điểm, tính cách không phù hợp, chị Tr ngoại tình với người đàn ông khác, không quan tâm chăm sóc chồng con. Việc mâu thuẫn của vợ chồng đã được hai bên gia đình nội ngoại và chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần, nhưng sau mỗi lần hòa giải tình cảm vẫn không được cải thiện mà ngày càng trầm trọng, vì vậy mà từ tháng 4 năm 2022 cho đến nay, vợ chồng anh không còn sống chung với nhau. Anh C thấy tình cảm vợ chồng không còn, nên yêu cầu Toà án giải quyết cho anh được ly hôn với bị đơn chị Lương Thị Tr.

- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng anh có 02 người con chung tên là Lê Hữu M, sinh ngày 22/02/2018 và Lê Khánh H sinh ngày 01/4/2020. Hiện nay các con đang do anh C trực tiếp chăm sóc nuôi dưỡng. Ly hôn anh có nguyện vọng được nuôi cả hai người con và không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Anh Lê Mạnh C và Chị Lương Thị Tr không có tài sản chung, không yêu cầu tòa án giải quyết.

- Về nợ chung: Anh C và chị Tr không vay nợ cá nhân, cơ quan, tổ chức nào cũng như không cho ai vay nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà, bị đơn Chị Lương Thị Tr vắng mặt mặc dù đã được Toà án triệu tập hợp lệ nhiều lần nên Toà án không thể tiến hành các thủ tục tố tụng theo quy định tại Điều 204; 207; 208 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu ý kiến theo quy định tại Điều 262 Bộ luật tố tụng dân sự như sau:

- Về tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử: quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự.

Việc chấp hành pháp luật của những người tham gia tố tụng: Nguyên đơn chấp hành đúng quy định của pháp luật, bị đơn chưa chấp hành đúng các quy định tại Điều 70, 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28, 35, 39, 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, 56, 81, 82, 83, 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; Áp dụng án lệ số 54/2022/AL: Xử cho Anh Lê Mạnh C được ly hôn với Chị Lương Thị Tr; Về con chung: Giao con chung Lê Hữu M, sinh ngày 22/02/2018 và Lê Khánh H sinh ngày 01/4/2020 cho Anh Lê Mạnh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi, hoãn việc cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Lương Thị Tr do anh C không yêu cầu; Về tài sản và nợ chung: Anh Lê Mạnh C và chị Lương Thị Tr không có tài sản chung và không có các khoản nợ, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên miễn xét; Về án phí: Anh Lê Mạnh C phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Đây là vụ án hôn nhân gia đình về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, bị đơn hiện cư trú tại Thôn Thủy Khê, xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng với quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Sau khi thụ lý vụ kiện Tòa án đã tiến hành đầy đủ các thông báo, triệu tập theo thủ tục tố tụng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chấp hành tốt các quyết định của Tòa án; Bị đơn không chấp hành các quyết định của Tòa án, gây khó khăn cho công tác điều tra, thu thập chứng cứ. Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử và tống đạt, niêm yết cho đương sự hợp lệ, nhiều lần. Nhưng tại phiên tòa hôm nay bị đơn vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định tiến hành xét xử sơ thẩm vụ án vắng mặt bị đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Bị đơn không nộp văn bản ghi ý kiến của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là vi phạm nghĩa vụ giao nộp chứng cứ. Tòa án căn cứ vào các tài liệu chứng cứ mà nguyên đơn đã giao nộp và Tòa án thu thập được để giải quyết vụ án theo quy định tại khoản 1 Điều 96 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Nguyên đơn và bị đơn có tranh chấp về người trực tiếp nuôi con chưa thành niên khi ly hôn nên theo quy định, Tòa án xác minh nguyên nhân phát sinh tranh chấp tại nơi cư trú và UBND xã Chi Khê, huyện Con Cuông là phù hợp với quy định tại khoản 3 Điều 208 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung: Xét thấy Anh Lê Mạnh C và chị Lương Thị Tr đăng ký kết hôn vào ngày 19 tháng 11 năm 2018 tại UBND xã Chi Khê, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An. Việc kết hôn là tự nguyện, không có sự ép buộc, không vi phạm các quy định về điều kiện và thủ tục kết hôn tại Điều 8, Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014. Như vậy hôn nhân giữa anh C và chị Tr là hợp pháp.

Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc cho đến năm 2022 thì phát sinh mâu thuẫn. Theo anh C, nguyên nhân mâu thuẫn do quan điểm, tính cách không phù hợp, vợ chồng thường xuyên cãi vã, xúc phạm lẫn nhau, chị Tr ngoại tình không quan tâm và chăm sóc chồng con. Tại phiên tòa chị Tr vắng mặt không có ý kiến trình bày nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy giữa vợ chồng chị Tr và anh C thường xuyên xẩy ra mâu thuân không thể hàn gắn được, vì vậy mà hiện nay hai vợ chồng đã không còn sống chung với nhau nữa, chị Tr thường xuyên đi đâu làm gì ở đâu không thông báo cho anh C và chính quyền địa phương biết. Như vậy, anh C và chị Tr đã vi phạm quy định về tình nghĩa vợ chồng, không sống chung với nhau mà không có lý do chính đáng. Xét thấy, giữa anh C và chị Tr mâu thuẫn đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy cần áp dụng Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình 2014, xử cho anh C được ly hôn với chị Tr.

Về con chung: Anh C và chị Tr có 02 người con chung tên là Lê Hữu M, sinh ngày 22/02/2018 và Lê Khánh H sinh ngày 01/4/2020. Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà anh C vẫn giữ nguyên yêu cầu được nuôi cả hai người con và không yêu cầu chị Tr cấp dưỡng nuôi con. Xét thấy khi cha, mẹ ly hôn, việc giao con chưa thành niên cho ai trực tiếp nuôi dưỡng, giáo dục cũng phải nhằm đảm bảo cho con sự phát triển tốt nhất cả về vật chất lẫn tinh thần. Như vậy nguyện vọng của anh C là chính đáng, thể hiện tinh thần và trách nhiệm của cha mẹ dành cho con. Xét thấy cháu Lê Khánh H đang dưới 36 tháng tuổi, tuy nhiên từ tháng 4/2022 do anh C và chị Tr đã ly thân với nhau trong thời gian từ khi ly thân cho đến nay cháu Huyền do anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng qua xác minh tại địa phương được biết anh C vẫn chăm sóc tốt cho con và đảm bảo đủ mọi mặt về điều kiện cuộc sống cho con. Mặt khác, chị Tr hiện nay không có mặt tại địa phương, chị Tr đi đâu làm gì chính quyền địa phương không rõ. Vì vậy để đảm bảo sự ổn định tâm lý, tránh xáo trộn cuộc sống của các con nên việc giao cả hai người con cho anh C trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi cháu Lê Hữu M và cháu Lê Khánh H trưởng thành. Về việc cấp dưỡng nuôi của vợ chồng khi ly hôn: Không xem xét giải quyết do không ai có yêu cầu.

Về tài sản chung và các khoản nợ: Do các đương sự đã không có tài sản chung, không có các khoản nợ và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên căn cứ vào khoản 1 Điều 5 của Bộ luật tố tụng dân sự Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Anh Lê Mạnh C phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Các đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa về việc giải quyết toàn bộ vụ án là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật, phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên cần chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 207; khoản 2 Điều 227; khoản 1, khoản 3 Điều 228; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.

Căn cứ vào các Điều 51; Điều 53; Điều 56; Điều 81; Điều 82; Điều 83 và 84 của Luật hôn nhân và gia đình 2014.

Căn cứ điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Áp dụng án lệ số 54/2022/AL. Được Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao thông qua ngày 07 tháng 9 năm 2022 và được công bố theo Quyết định số 323/QĐ-CA ngày 14 tháng 10 năm 2022 của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Anh Lê Mạnh C.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho Anh Lê Mạnh C được ly hôn với Chị Lương Thị Tr.

2.Về con chung: Giao con chung tên là Lê Hữu M, sinh ngày 22/02/2018 và Lê Khánh H sinh ngày 01/4/2020 cho anh Lê Mạnh C trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi các con trưởng thành, đủ 18 tuổi. Chị Tr không phải cấp dưỡng nuôi con do anh C không yêu cầu. Vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

Chị Lương Thị Tr có quyền và nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai được cản trở. Nếu chị Lương Thị Tr lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người không trực tiếp nuôi con.

Anh Lê Mạnh C cùng các thành viên gia đình không được cản trở chị Lương Thị Tr trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về án phí: Anh Lê Mạnh C phải chịu 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai số 0000896 ngày 17 tháng 02 năm 2023 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An; Anh Lê Mạnh C đã nộp đủ án phí.

4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án đến Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ tuyên án; Bị đơn có quyền kháng cáo đến Toà án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ