- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bùi Thị Ngân Quỳnh - Cao Văn Đạt"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Ngân Q được ly hôn anh Cao Văn Đ.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 10 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC TỈNH THANH HOÁ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST Ngày: 19-4-2023 V/v: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÁ THƢỚC, TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Hùng
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lương Thanh Hải
2. Bà Hà Thị Minh
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Hải Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bá Thước tham gia phiên tòa: Bà Trương Thị Thanh - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 4 năm 2023, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hoá xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 229/2022/TLST-HNGĐ, ngày 12 tháng 12 năm 2022 về: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 16/20232/QĐXXST-HNGĐ ngày 08 tháng 03 năm 2023 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 09/2023/QĐST- HNGĐ ngày 29 tháng 03 năm 2023 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị Ngân Q, sinh năm: 1995
Trú tại: Thôn Quang Trung, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt. (Có đơn xin xét xử vắng mặt ngày 14/03/2023).
- Bị đơn: Anh Cao Văn Đ, sinh năm: 1994
HKTT: Thôn Quang Trung, xã Lương Trung, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa.
Quê quán và nơi ở hiện nay: Thôn Điền Giang, xã Điền Lư, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án chị Bùi Thị Ngân Q trình bày: Chị và anh Đạt tự do tìm hiểu, có tổ chức cưới theo phong tục tập quán và đăng ký kết hôn tại UBND xã Điền Lư ngày 15/9/2014. Sau khi kết hôn vợ chồng sống với gia đình bên ngoại, hôn nhân hạnh phúc được khoảng 04 năm, quá trình chung sống nảy sinh nhiều bất đồng, không hòa hợp được nên năm 2018 chị đã từng yêu cầu ly hôn nhưng anh Đạt không đồng ý, vợ chồng thẳng thắn chia sẻ và thống nhất cho nhau thêm cơ hội nên đã quay về đoàn tụ. Đầu năm 2019 mâu thuẫn lại nảy sinh, sống chung nhà nhưng vợ chồng không có tiếng nói chung, hiện vợ chồng ly thân đã 03 năm, anh Đạt đã về ở tại nhà mẹ đẻ tại thôn Điền Giang, xã Điền Lư, huyện Bá Thước, hiện nay không ai còn quan tâm đến ai. Nay chị không còn tình cảm với anh Đạt, anh Đạt không đồng ý ly hôn nhưng chị thấy hôn nhân không hạnh phúc, không cùng nhau xây dựng gia đình nªn chị đề nghị Tßa ¸n gi¶i quyÕt cho chị được ly h«n anh Đạt.
- Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên là Cao Gia Hân, sinh ngày 04/10/2014. Hiện nay cháu đang ở với chị và gia đình bên ngoại, do từ nhỏ cháu đã quen sống với chị và ông bà ngoại, ly hôn chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi con và chị yêu cầu anh Đạt cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Gia Hân đủ 18 tuổi.
- VÒ tµi s¶n: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã thông báo thụ lý và triệu tập hợp lệ anh Đạt đến tòa án để làm bản tự khai nhưng anh Đạt vắng mặt nên không có lời khai của anh Đạt trong hồ sơ vụ án. Chị Quỳnh đề nghị không tiến hành hoà giải nên Toà án không tiến hành hoà giải. Đây là trường hợp không tiến hành hoà giải được theo quy định tại khoản 4 điều 207 Bộ luật tố tụng dân sự (sau đây viết tắt là BLTTDS). Tòa án cũng đã thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho các bên đương sự nhưng anh Đạt không có mặt nên Tòa án đã thông báo kết quả kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ cho anh Đạt. Anh Đạt cũng đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai đến tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do, chị Quỳnh đã có đơn xin xét xử vắng mặt nên căn cứ điều 227, điều 228, điều 238 của BLTTDS Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt chị Quỳnh và anh Đạt.
Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa: Tòa án đã tuân thủ đúng quy định về trình tự thủ tục của Bộ luật tố tụng dân sự. Đề nghị HĐXX áp dụng các điều 56, 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, xử cho chị Quỳnh được ly hôn anh Đạt. Về con chung: Giao cháu Cao Gia Hân, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Quỳnh được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến tuổi thành niên, anh Đạt cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng) cho đến khi cháu Gia Hân đủ 18 tuổi. Về tài sản: Chị Quỳnh không yêu cầu giải quyết nên miễn xét. Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về hôn nhân: Chị Bùi Thị Ngân Q và anh Cao Văn Đ đến với nhau trên cơ sở tự nguyện, ®¨ng ký kÕt h«n tại UBND xã Điền Lư, huyện Bá Thước, tỉnh Thanh Hóa ngày 15/9/2014 không vi phạm các điều 9, 10 Luật hôn nhân và gia đình năm 2000, là hôn nhân hợp pháp và thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 điều 28 BLTTDS. Quá trình chung sống nảy sinh nhiều bất đồng, không hòa hợp được. Cả hai vợ chồng đều đi làm ăn xa nhau, tình cảm có sự gián đoạn đổ vỡ, thiếu thông cảm với nhau. Vợ chồng không thể khắc phục được mâu thuẫn nên từ năm 2019 hai bên đã ly thân, anh Đạt chuyển về nhà mẹ đẻ để sinh sống. Việc này đã được chính quyền địa phương xác nhận, phù hợp với nội dung xác minh tình trạng hôn nhân của Tòa án. Hội đồng xét xử xét thấy, m©u thuÉn vî chång ®· ®Õn møc trÇm träng, đời sèng chung kh«ng thÓ kÐo dµi, môc ®Ých h«n nh©n kh«ng ®¹t ® îc. V× vËy, cần c¨n cø ®iÒu 56 LuËt h«n nh©n vµ gia ®×nh xö cho chị Bùi Thị Ngân Q được ly hôn với anh Cao Văn Đ để giải phóng cho người phụ nữ là cần thiết và phù hợp pháp luật.
Về con chung: Chị Q và anh Đ có 01 con chung là Cao Gia Hân, sinh ngày 04/10/2014. Hiện chị Quỳnh đang trực tiếp nuôi cháu, cháu Gia Hân có nguyện vọng được ở với mẹ. Ly hôn chị có nguyện vọng tiếp tục nuôi con và chị yêu cầu anh Đạt cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Để đảm bảo điều kiện phát triển ổn định bình thường cho con trẻ, tránh sự sáo trộn trong cuộc sống sinh hoạt hàng ngày nghĩ nên chấp nhận yêu cầu của chị Quỳnh, giao cháu Gia Hân cho chị Quỳnh trực tiếp nuôi dưỡng đến tuổi thành niên, anh Đạt cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng), bắt đầu từ tháng 4/2023 cho đến khi cháu Gia Hân đủ 18 tuổi là phù hợp với điều kiện hoàn cảnh thực tế, giới tính và các quy định của pháp luật.
Về tài sản: Chị Q không yêu cầu giải quyết nên miễn xét.
Về án phí: Chị Q phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Khoản 1 điều 56, điều 58, 81, 82, 83 Luật hôn nhân và gia đình; Khoản 1 điều 28, khoản 4 điều 207, điểm a, b khoản 2 điều 227, điều 228, điều 238 và khoản 4 điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 1 điều 24, điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu án phí và lệ phí Toà án.
Về hôn nhân: Xử cho chị Bùi Thị Ngân Q được ly hôn anh Cao Văn Đ.
Về con chung: Giao cháu Cao Gia Hân, sinh ngày 04/10/2014 cho chị Quỳnh trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục đến tuổi thành niên. Anh Đạt có nghĩa vụ cấp dưỡng tiền nuôi con chung mỗi tháng 1.000.000đ (Một triệu đồng). Khoản tiền cấp dưỡng nuôi con bắt đầu từ tháng 04/2023 cho đến khi cháu Gia Hân đủ tuổi thành niên (18 tuổi).
Anh Cao Văn Đ có quyền đi lại trông nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở.
Về án phí: Chị Bùi Thị Ngân Q phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm nhưng được trừ vào tiền tạm ứng án phí chị đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bá Thước theo biên lai số: AA/2022/0001978 ngày 12/12/2022. Chị Quỳnh đã nộp đủ án phí.
Anh Cao Văn Đ phải nộp 300.000đ án phí cấp dưỡng nuôi con chung.
Trường hợp bản án được thi hành theo điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật thi hành án dân sự.
Án xử công khai sơ thẩm, vắng mặt chị Quỳnh và anh Đạt. Chị Quỳnh và anh Đạt có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - VKSND huyện Bá Thước; - Các đương sự; - UBND xã Điền Lư; - Lưu hồ sơ. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Hội thẩm nhân dân Lƣơng Thanh Hải Hà Thị Minh | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phạm Văn Hùng Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Phạm Văn Hùng |