- Tranh chấp gì? Tranh chấp về hụi, họ, biêu, phường — án dân sự — "hụi"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Sa V.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Nghị định số 19/2019/NĐ-CP Về họ, hụi, biêu, phường
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN TIỂU CẦN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/DSST Ngày: 27-3-2023 V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỂU CẦN, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Dương Thị Mỹ Chấm
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Minh Nhiễm;
Ông Lê Thanh Bình.
- Thư ký phiên tòa: Bà Sơn Thị Hoa Lan- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hoàng Danh, Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 3 năm 2023, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 59/2022/TLST–DS, ngày 17-10-2022; về việc “Tranh chấp hợp đồng dân sự về góp hụi”; theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 140/2023/QĐXXST-DS, ngày 06-3-2023; giữa:
Nguyên đơn: Bà Trần Thị Sa V, sinh năm 1974; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Có đơn xin vắng mặt).
Bị đơn: Bà Kim Thị Ng, sinh năm 1972 và ông Thạch S, sinh năm 1970; Địa chỉ: Ấp Ô Tr, xã Hiếu T, huyện Tiểu C, tỉnh Trà Vinh (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện trong quá trình giải quyết nguyên đơn bà Trần Thị Sa V trình bày:
Ngày 25/3/2018, bà có tham gia góp hụi do bà Kim Thị Ng và ông Thạch S làm chủ hụi, hình thức tham gia góp hụi được thỏa thuận như sau: Loại hụi 10.000.000 đồng, chỉ thỏa thuận bằng lời nói không có làm văn bản, chủ hụi có giao danh sách hụi viên cho bà (danh sách chủ hụi ghi tên bà là Khai Vènl), có 15 phần, huê hồng đầu thảo hưởng 4.000.000 đồng/lần hốt; hụi vụ; sau khi hốt thì chủ hụi có trách nhiệm gom tiền của hụi viên rồi giao cho người trúng thăm hốt hụi, hụi đã khui đến lần thứ 06, chủ hụi úp hụi đồng loạt, cụ thể:
Lần 1: Thạch Thị Sa Nun (Mon Rànl) bỏ thăm 4.200.000 đồng, bà đóng hụi sống bằng 5.800.000 đồng;
Lần 2: Thạch Thị Sa Nun (Mon Rànl) bỏ thăm 5.700.000 đồng, bà đóng hụi sống bằng 4.300.000 đồng;
Lần 3: Sơn Thị Sa Vương (Sa Vuơn) bỏ thăm 5.390.000 đồng, bà đóng hụi sống bằng 4.610.000 đồng;
Lần 4: Thạch Thị Kim Lành (Chẩn Pà Mẩn) bỏ thăm 5.320.000 đồng, bà đóng hụi sống bằng 4.680.000 đồng;
Lần 5: Thạch Thị Sâm Phênh (Rương Phênl) bỏ thăm 5.010.000 đồng, bà đóng hụi sống bằng 4.990.000 đồng;
Lần 6: Nguyễn Thị Hòa (Phượng Rà) bỏ thăm 5.150.000 đồng, bà đóng hụi sống bằng 4.850.000 đồng;
Lần 7: Hà Mộng Linh (Tâm Bànl) bỏ thăm 6.870.000 đồng, bà đóng hụi sống bằng 3.130.000 đồng;
Ở lần khui thứ 08 bà Kim Thị Ng và ông Thạch S úp hụi.
Nay bà yêu cầu bà Kim Thị Ng và ông Thạch S trả cho bà 07 lần hụi sống đã đóng bằng 32.360.000 đồng (Loại hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 25/3/2018, dây hụi số 01), bà không yêu cầu tính lãi.
Bà Trần Thị Sa V có đơn xin xét xử vắng mặt.
Đối với bị đơn: Sau khi Tòa án thụ lý vụ án, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt hợp lệ các thủ tục như Thông báo về việc thụ lý vụ án, các Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, nhưng bà Kim Thị Ng và ông Thạch S không đến Tòa án tham gia tố tụng, Tòa án có lập biên bản về việc không tiến hành lấy lời khai được đối với bà Ng và ông S ở dây hụi trên, nên không xác định được những tình tiết nào của vụ án mà các bên đã thống nhất và không thống nhất. Vì vậy Tòa án căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để xét xử.
Trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn có cung cấp tài liệu chứng cứ gồm: 01 danh sách hụi viên (photo); 01 chứng minh nhân dân tên Trần Thị Sa V, 01 Sổ hộ khẩu (photo); Bị đơn không có cung cấp tài liệu chứng cứ.
Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Trong quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án cho đến xét xử, Thẩm phán, Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng nhiệm vụ, quyền hạn và tuân thủ đúng trình tự, thủ tục giải quyết vụ án dân sự theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự. Đương sự tham gia tố tụng trong vụ án đã thực hiện đúng các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn chưa chấp hành đúng theo quy định của pháp luật còn vắng mặt tại các phiên hòa giải và phiên tòa.
Về nội dung vụ án: Sau khi tóm tắt nội dung vụ án Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Sa V.
2. Buộc bà Kim Thị Ng và ông Thạch S trả cho bà Trần Thị Sa V 07 lần tiền hụi sống đã đóng bằng 32.360.000 đồng (Loại hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 25/3/2018, dây hụi số 01); Bà Trần Thị Sa V không yêu cầu tính lãi.
3. Về án phí đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng: Bị đơn cư trú tại huyện Tiểu Cần theo quy định tại Điều 35, 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tiểu Cần; Bị đơn không có yêu cầu phản tố.
Bà Trần Thị Sa V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự vẫn xét xử vụ án.
Bà Kim Thị Ng và ông Thạch S trong quá trình tiến hành tố tụng và giải quyết vụ án đều vắng mặt, Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vụ án.
. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn: Bà Trần Thị Sa V yêu cầu bà Kim Thị Ng và ông Thạch S trả lại 07 lần tiền hụi sống đã đóng bằng 32.360.000 đồng (Loại hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 25/3/2018, dây hụi số 01); Bà Trần Thị Sa V không yêu cầu tính lãi.
. Đối với bà Kim Thị Ng và ông Thạch S mặc dù không đến Tòa án để giải quyết vụ kiện với bà Sa V, nhưng Tòa án có sao gửi các chứng cứ mà bà Sa V nộp khởi kiện gồm: đơn khởi kiện, danh sách hụi viên thể hiện ông, bà là chủ hụi ở dây hụi trên và những chứng cứ khác có liên quan để ông, bà có ý kiến hoặc phản bác về những chứng cứ mà bà Sa V nộp khởi kiện ông, bà. Trong quá trình giải quyết Tòa án có xác minh hụi viên cùng có ý kiến thống nhất bà Ng và ông S có tổ chức khui dây hụi số 01, loại hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 25/3/2018, hụi đã khui đến lần thứ 07 có hụi viên bà Trần Thị Sa V (danh sách hụi viên tên Khai Vènl) cùng tham gia. Do bà Ng và ông S không có ý kiến về các nội dụng bà Trần Thị Sa V đã khởi kiện, nên Hội đồng xét xử căn cứ vào những chứng cứ có trong hồ sơ để giải quyết.
Từ những nhận định nêu trên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là có căn cứ, bà Sa V không có yêu cầu tính lãi nên không xem xét.
Về án phí dân sự sơ thẩm: Buộc bị đơn bà Kim Thị Ng và ông Thạch S phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
Nguyên đơn bà Trần Thị Sa V không phải chịu án phí.
Xét thấy, đề nghị của Vị đại diện Viện kiểm sát tại phiên toà là có căn cứ theo quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 91, 92, 147 và các Điều 227, 228, 273, 280 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Áp dụng Điều 471 Bộ luật Dân sự;
Áp dụng các Điều 27, 37 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
Căn cứ Nghị định số 19/2019/NĐ-CP ngày 19/02/2019 của Chính phủ về họ, hụi biêu phường;
Căn cứ Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị Sa V.
2. Buộc bà Kim Thị Ng và ông Thạch S trả cho bà Trần Thị Sa V 07 lần tiền hụi sống đã đóng bằng 32.360.000 đồng (Loại hụi 10.000.000 đồng, mở ngày 25/3/2018, dây hụi số 01); Bà Trần Thị Sa V không yêu cầu tính lãi.
Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của bên được thi hành án, cho đến khi thi hành án xong, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu thêm cho bên được thi hành án khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015 tương ứng với thời gian chưa thi hành án.
3. Về án phí: Buộc bị đơn bà Kim Thị Ng và ông Thạch S phải chịu 1.618.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bà Trần Thị Sa V không phải chịu án phí; Hoàn trả số tiền 809.000 đồng theo biên lai thu tiền số 0011491 ngày 12-10-2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiểu Cần, tỉnh Trà Vinh trả lại cho bà Trần Thị Sa V.
4. Về quyền kháng cáo: Đương sự vắng măt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai để xin Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Trà Vinh; - VKSND huyện Tiểu Cần; - Chi cục THADS huyện Tiểu Cần; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Dương Thị Mỹ Chấm |