- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bản án sơ thẩm Đỗ Thị A - Nguyễn Khắc T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị A được ly hôn anh Nguyễn Khắc T.
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 82 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ TỈNH PHÚ THỌ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2023/HNGĐ-ST Ngày: 30/9/2023 V/v: “Tranh chấp Hôn nhân gia đình” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẨM KHÊ - TỈNH PHÚ THỌ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Hán Hưởng
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Nguyễn Văn Trò
2. Ông Hà Mạnh Linh
- Thư ký phiên toà: Bà Hà Thị Cẩm Vân - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Kh Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng năm 2023, tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 219/2023/TLST-HNGĐ ngày 28 tháng 6 năm 2023, về việc “Tranh chấp hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2023/QĐXXST-HNGĐ ngày 31 tháng 7 năm 2023, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị A, sinh năm 1997
Bị đơn: Anh Nguyễn Khắc T, sinh năm 1991.
Cùng địa chỉ: Khu T, xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ (Chị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; anh T vắng mặt lần thứ 2 không có lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 06 tháng 6 năm 2023, các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đỗ Thị A trình bày:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Khắc T tự nguyện đăng ký kết hôn, tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện C, tỉnh Phú Thọ ngày 01/4/2016. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận hạnh phúc đến năm 2021 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do anh T ham chơi, không chịu làm ăn, dẫn đến nợ nhiều từ đó vợ chồng thường xảy ra cãi nhau, mặc dù được hai bên gia đình đã khuyên giải nhưng mâu thuẫn không được giải quyết mà ngày càng trầm trọng hơn nên vợ chồng ly thân từ năm 2021 đến nay, vợ chồng không còn quan tâm đến nhau để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình. Nay chị xác định tình cảm vợ chồng giữa chị và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài mục đích hôn nhân không đạt được nên chị xin ly hôn với anh T để ổn định cuộc sống.
- Về con chung: Chị và anh T có 01 con chung là Nguyễn Đỗ Gia Kh, sinh ngày 11/10/2017. Chị có quan điểm xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung khi vợ chồng ly hôn và không yêu cầu anh T phải cấp dưỡng nuôi con chung.
- Về tài sản chung, quyền, nghĩa vụ về tài sản và công sức: Chị A không đề nghị Tòa án giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã nhiều lần báo anh T đến để giải quyết việc chị A xin ly hôn. Mặc dù giấy báo được tống đạt hợp lệ cho ông Nguyễn Khắc Bộ là bố đẻ anh T và ở cùng địa chỉ với anh T. Ông Bộ đã nhận giấy báo và cam kết giao cho anh T nhưng anh T không đến để giải quyết việc chị A xin ly hôn.
Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cẩm Khê phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật: Trong quá trình giải quyết và tại phiên tòa, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, người T hành tố tụng và người tham gia tố tụng đã thực hiện, chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn là chị Đỗ Thị A thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định của pháp luật. Bị đơn anh Nguyễn Khắc T cố tình vắng mặt là chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án
\
- Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đỗ Thị A được ly hôn với anh Nguyễn Khắc T.
- Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị A được trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung là Nguyễn Đỗ Gia Kh sinh ngày 11/01/2017. Anh T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị A không yêu cầu.
- Về tài sản chung, nợ chung và công sức: Không đề nghị xem xét nên đề nghị Hội đồng xét xử không giải quyết.
- Về án phí: Chị Đỗ Thị A phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên toà; trên cơ sở xem xét, đA giá đầy đủ và toàn diện chứng cứ, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn chị Đỗ Thị A có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; bị đơn anh Nguyễn Khắc T đã được Tòa án tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ nhưng vẫn cố tình vắng mặt lần thứ hai không tham dự phiên toà nhưng không có lý chính đáng nên Hội đồng xét xử đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh T là thực hiện đúng quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự.
. Xét yêu cầu khởi kiện của chị Đỗ Thị A xin được ly hôn anh Nguyễn Khắc T thấy rằng: Chị Đỗ Thị A và anh Nguyễn Khắc T được tự do tìm hiểu và kết hôn tự nguyện tại Ủy ban nhân dân xã Chương Xá, huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ là hôn nhân hợp pháp.
Trong quá trình chung sống anh chị có xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân do anh T ham chơi, không chịu làm ăn dẫn tới vợ chồng mâu thuẫn và sống ly thân từ năm 2021 đến nay, vợ chồng không quan tâm đến nhau để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình.
Tòa án đã triệu tập anh T hợp lệ để hòa giải mâu thuẫn vợ chồng để cùng nhau xây dựng hạnh phúc gia đình nhưng anh T cố tình vắng mặt. Như vậy, có đủ cơ sở để xác định, tình cảm vợ chồng chị A và anh T đã mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên cần yêu cầu xin ly hôn của chị A, cho chị A được ly hôn anh Nguyễn Khắc T để ổn định cuộc sống.
. Về con chung: Chị A và anh T có một con chung là Nguyễn Đỗ Gia KhA, sinh ngày 11/01/2017. Xét nguyện vọng của chị A đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng con chung thấy rằng:
Hiện nay cháu Nguyễn Đỗ Gia Kh đang ở cùng chị A, trong khi anh T không có công việc ổn định lại cố tình vắng mặt, không có quan điểm. Vì vậy, để đảm bảo cho việc thường xuyên quan tâm, chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Cần giao cháu Kh cho chị A trực tiếp nuôi dưỡng mới đảm bảo quyền lợi của con chung. Anh T không ai phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị A không yêu cầu.
. Về tài sản chung, quyền, nghĩa vụ về tài sản và công sức : Chị A không đề nghị Tòa án giải quyết, nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
. Về án phí: Chị A phải chịu toàn bộ án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Áp dụng khoản 1 Điều 56; khoản 1, 2 Điều 81, khoản 1, 3 Điều 82 và Điều 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147; điểm a, b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án và Điều 26 Luật thi hành án dân sự.
Xử:
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Đỗ Thị A được ly hôn anh Nguyễn Khắc T.
2. Về con chung: Giao cho chị Đỗ Thị A trực tiếp nuôi dưỡng con chung là Nguyễn Đỗ Gia Kh, sinh ngày 11/01/2017, kể từ khi vợ chồng ly hôn đến khi con chung thành niên (đủ 18 tuổi) lao động tự túc được. Anh Nguyễn Khắc T không phải cấp dưỡng nuôi con chung vì chị A không yêu cầu nhưng anh T có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung không ai được cản trở.
Trong trường hợp Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
3. Về án phí: Chị A phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm. Xác nhận chị A đã nộp 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tại Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0008141 ngày 28/6/2023, của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cẩm Khê, tỉnh Phú Thọ. Chị A đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.
Chị A, anh T vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Phú Thọ xét xử theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - VKSND huyện + tỉnh; - Các đương sự; - Chi cục THADS h.Cẩm Khê; - UBND xã Chương Xá; - Lưu HS; VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Hán Hưởng |