vanban.org

Bản án 55/2022/HSST — Hình sự

TAND TP. Cam Ranh, tỉnh Khánh Hòa Tuyên án 30/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Tam A -Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CAM RANH
TỈNH KHÁNH HOÀ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HSST
Ngày: 30/6/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CAM RANH, TỈNH KHÁNH HÒA

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Th m phán - Ch t a phi n t a: Ông Nguyễn Bảy Nhuận

- Hội th m nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyền

Ông Nguyễn Quốc Thịnh

- Thư ký T a án ghi bi n bản phi n t a: Bà Trần Thị Thanh Huyền – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh H a.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh tham, tỉnh Khánh Hòa gia phiên tòa: Ông Lê Quang Khải - Kiểm sát vi n.

Ngày 30 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Cam Ranh, tỉnh Khánh H a mở phi n t a xét xử sơ th m vụ án hình sự thụ lý số 70/2022/HSST ngày 23/5/2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/2022/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 6 năm 2022 đối với các bị cáo:

1. H và t n: Lê Tâm A (t n g i khác: T), sinh năm 1988 tại Cam Ranh, Khánh Hòa; Nơi cứ trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh H a; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hoá: 07/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: L Văn T (sinh năm 1972) và mẹ: Nguyễn Thị P (sinh năm 1971);

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/3/2022 đến ngày 31/3/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

2. H và t n: Lê Văn T (t n g i khác: T), sinh năm 1990 tại Cam Ranh, Khánh Hòa; Nơi cư trú: Tổ dân phố H, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh H a; nghề nghiệp: Làm biển; trình độ văn hoá: 06/12; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; cha: L Văn T (sinh năm 1972) và mẹ: Nguyễn Thị P (sinh năm 1971); vợ: Tô Thảo T (sinh năm 2000); có 02 con lớn nhất sinh năm 2019 nhỏ nhất sinh năm 2022.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/3/2009 bị T a án nhân dân tối cao tại Đà Nẵng xử phạt 08 năm tù về tội “Giết người”. Chấp hành xong toàn bộ bản án ngày 04/11/2014.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 22/3/2022 đến ngày 31/3/2022 áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo tại ngoại. Có mặt.

* Bị hại: Ông Võ Văn Q, sinh năm 1982, trú tại: Thôn S, xã C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

*Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Phạm M, sinh năm 1981, trú tại: Tổ dân phố T, phường C, thành phố R, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

2. Ông Phạm Ngọc H, sinh năm 1988, trú tại: Thôn X, xã S, huyện C, tỉnh Khánh Hòa. Vắng mặt.

NỘI DUNG V ÁN:

Theo á à ệu

ong hồ sơ vụ án và n n

h n a, n ung vụ án ư

m như sau

Khoảng 17 giờ ngày 21/3/2022, Lê Tâm A r L Văn T đi trộm cắp vẹm xanh để bán lấy tiền ti u xài. T đồng ý. A đi mua 02 đôi găng tay bằng vải và mượn 02 thuyền thúng c a Phạm Ng c H và Phạm M để làm phương tiện đi trộm cắp vẹm xanh.

Đến khoảng 18 giờ 30 phút cùng ngày, Lê Tâm A điều khiển thuyền thúng màu vàng, L Văn T điều khiển thuyền thúng màu xanh ra khu vực nuôi vẹm xanh c a anh Võ Văn Q ở vùng biển thuộc tổ dân phố Đá Bạc, phường Cam Linh, thành phố Cam Ranh. Tại đây, A và T dùng tay tuốt lấy vẹm xanh bỏ l n thuyền thúng. Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, anh Q điều khiển ghe ra khu vực nuôi vẹm xanh kiểm tra thì phát hiện bắt quả tang A, T đang trộm cắp vẹm xanh.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 36 ngày 28/3/2022 c a Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự thành phố Cam Ranh kết luận: 460kg vẹm xanh (loại vẹm xanh dùng làm thức ăn cho tôm xanh) trị giá 3.680.000 đồng.

Bản cáo trạng số 50/CT-VKSCR-HS ngày 23 tháng 5 năm 2022 c a Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh đã truy tố các bị cáo Lê Tâm A, L Văn T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.

Tại phi n t a:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh giữ nguy n Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Tâm A, L Văn T; áp dụng thêm điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Tâm A;

Xử phạt bị cáo Lê Tâm A mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam.

Xử phạt bị cáo L Văn T mức án từ 06 tháng đến 09 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại Võ Văn Q đã nhận lại tài sản và không y u cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại n n không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu ti u h y 02 đôi găng tay màu đen, bằng vải.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan đã nhận lại tài sản và không y u cầu gì n n không xem xét.

Các bị cáo không có ý kiến tranh luận, tại lời nói sau cùng các bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

NH N NH CỦA HỘI ỒNG X T X :

T n ơ s n ung vụ án, ăn vào á à ệu ong hồ sơ vụ án

ư h m a, h , anh u n

h n a,

ồng

nh n h y như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng c a Cơ quan điều tra Công an thành phố Cam Ranh, Điều tra vi n, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Cam Ranh, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự th tục quy định c a Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phi n t a bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Dó đó, các hành vi, quyết định tố tụng c a cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Đối với người tham gia tố tụng là bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan vắng mặt tại phi n t a nhưng trong hồ sơ vụ án đã có đầy đ lời khai, được cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai theo đúng quy định c a Bộ luật tố tụng hình sự. Do vậy, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử theo quy định c a pháp luật.

[2] Về trách nhiệm hình sự:

[2.1] Về hành vi phạm tội c a các bị cáo: Tại phi n t a, các bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội mà các bị cáo đã thực hiện đúng như Cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội c a các bị cáo phù hợp với lời khai c a bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan, bi n bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được th m tra tại phi n t a n n có cơ sở xác định: Lợi dụng sự sơ hở c a ch sở hữu tài sản ông Võ Văn Q trong việc bảo vệ và quản lý tài sản, các bị cáo đã thực hiện trộm cắp cụ thể:

Khoảng 21 giờ ngày 21/3/2022, tại khu vực nuôi vẹm xanh c a ông Võ Văn Q ở vùng biển thuộc tổ dân phố Đá Bạc, phường Cam Linh, thành phố Cam Ranh; Lê Tâm A và L Văn T đã có hành vi trộm cắp 460kg con vẹm xanh loại dùng để làm thức ăn cho tôm xanh c a ông Q, trị giá 3.680.000 đồng (Ba ệu sáu ăm ám mươ nghìn ồng).

Vì vậy, các bị cáo Lê Tâm A và L Văn T phải chịu trách nhiệm hình sự về tội “T m

à sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng c a Viện kiểm sát và kết luận c a Kiểm sát vi n tại phi n t a truy tố các bị cáo Lê Tâm A và L Văn T theo đúng tội danh và điều luật n u tr n là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[2.2] Xét tính chất nguy hiểm, mức độ hậu quả c a hành vi và nhân thân c a các bị cáo thấy rằng: Hành vi phạm tội c a các bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản c a người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất trật tự trị an tr n địa bàn thành phố, gây tâm lý hoang mang trong quần chúng nhân dân.

[2.2.1] Đối với bị cáo Lê Tâm A là đối tượng ch mưu, r r bị cáo L Văn T cùng thực hiện hành vi phạm tội để có tiền ti u xài cá nhân. Vì vậy, cần phải có một mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội.

[2.2.2] Đối với bị cáo L Văn T là đồng phạm trong vụ án, sau khi nghe bị cáo A r đi trộm cắp tài sản thì bị cáo đã đồng ý ngay cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản để có tiền ti u xài cá nhân, bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị kết án về tội “Giết người” là tội phạm đặc biệt nghi m tr ng nhưng không chịu tu dưỡng rèn luyện và lấy đó làm bài h c cho bản thân cho thấy bị cáo là đối tượng coi thường pháp luật n n cần phải có một mức án tương xứng với hành vi phạm tội c a bị cáo.

[2.3] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo Lê Tâm A và L Văn T không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo Lê Tâm A và L Văn T đều khai báo thành kh n, tỏ ra ăn năn hối hận về hành vi phạm tội c a mình, phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, được bị hại làm đơn xin bãi nại cho các bị cáo, đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ri ng bị cáo Lê Tâm A thì Hội đồng xét xử áp dụng th m tình tiết giảm nhẹ phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghi m tr ng quy định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo khi lượng hình để các bị cáo thấy được sự khoan hồng c a pháp luật mà an tâm, phấn đấu cải tạo tốt.

[3] Về xử lý vật chứng:

- 02 đôi găng tay màu đen, bằng vải, Hội đồng xét xử xét thấy đây là các cộng cụ các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, không c n giá trị sử dụng n n tịch thu ti u h y.

[4] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại Võ Văn Q đã nhận lại tài sản và không y u cầu các bị cáo bồi thường thiệt hại n n Hội đồng xét xử không xem xét.

Người có quyền lợi nghĩa vụ li n quan Phạm Ng c H, Phạm M đã nhận lại tài sản và không y u cầu các bị cáo phải bồi thường thiệt hại n n Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Đối với hành vi c a Phạm Ng c H, Phạm M là người cho các bị cáo A, T mượn thuyền thúng để đi thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng ông H và ông M không biết các bị cáo sử dụng để thực hiện hành vi phạm tội nên không truy cứu trách nhiệm hình sự là phù hợp.

[6] Về án phí: Các bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ th m theo quy định c a pháp luật.

Vì á ẽ n;

QUYẾT NH:

[1] Tuy n bố các bị cáo Lê Tâm A và L Văn T phạm tội “T m

à sản”;

Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với các bị cáo Lê Tâm A và L Văn T;

Áp dụng điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với bị cáo Lê Tâm A.

[2] Xử phạt: Bị cáo Lê Tâm A (t n g i khác là: Tâm) 06 (Sáu) tháng tù về tội “T m

à sản”; Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 22/3/2022 đến ngày 31/3/2022.

Bị cáo Lê Văn T (t n g i khác là: Tấn) 06 (sáu) tháng tù về tội “T m

à sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án nhưng được trừ vào thời gian tạm giữ bị cáo từ ngày 22/3/2022 đến ngày 31/3/2022.

[3] Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:

Tịch thu ti u h y số vật chứng gồm: 02 (hai) đôi găng tay màu đen, bằng vải.

Số vật chứng nói tr n theo bi n bản giao nhận vật chứng ngày 26/5/2022 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Cam Ranh và Chi Cục thi hành án dân sự thành phố Cam Ranh.

[4] Về án phí: Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí t a án:

Các bị cáo Lê Tâm A và L Văn T mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (Hai ăm nghìn ồng) án phí hình sự sơ th m.

[5] Về quyền kháng cáo: Các bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuy n án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ li n quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời giạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được ni m yết công khai theo quy định c a pháp luật để y u cầu T a án nhân dân tỉnh Khánh Hòa xét xử phúc th m.

Cỡ chữ