vanban.org

Bản án 55/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Long Khánh, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 24/05/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân M 02 (Hai) năm tù. Áp dụng khoản 2 Điều 329 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bắt tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân M ngay tại phiên tòa. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm, giam bị cáo. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Xuân M - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của B…"
  • Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TP. LONG KHÁNH TỈNH ĐỒNG NAI
______________

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày 24-5-2022.

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LONG KHÁNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai

Các Hội thẩm nhân dân: 1/Bà Trần Thị Tố Loan

2/ Ông Nguyễn Thế Nam

- Thư ký phiên tòa: Anh Nguyễn Phi H, Thư ký Tòa án nhân dân thành phố

Long Khánh, tỉnh Đồng Nai.

- Đại diện VKSND thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên

tòa: Ông Nguyễn Hữu Chinh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Long Khánh,

tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 39/2022/TLST-HS ngày 04 tháng 4 năm 2022, theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 57/2022/QĐXXST-HS ngày 12/5/2022, đối với bị cáo:

Nguyễn Xuân M (Tên gọi khác: Không); sinh năm1999 tại Đồng Nai; nơi cư trú:

KP 2, phường KP 2, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Phật; nghề nghiệp: Phụ hồ; trình độ học vấn: 0/12; con ông Nguyễn Văn TH, sinh năm: 1976 và con bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; gia đình có 08 anh, chị, em ruột, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình, em nhỏ nhất sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: Không; bị cáo được áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 10/11/2021 cho đến nay, có mặt.

- Bị hại: Trịnh Văn H, sinh năm 1992. Địa chỉ: KP 2, phường KP 2, thành phố

LK, tỉnh Đồng Nai, có mặt.

- Người làm chứng: 1/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972; 2/ Bà Nguyễn Thị H,

sinh năm 1981; 3/ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962; 4/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964; 5/ Ông Nguyễn Văn TH, sinh năm 1976; 6/ Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1978; Chị Nguyễn Thị L, sinh năm 2001. Cùng địa chỉ: Tổ 12, KP 2, phường KP 2, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai.

4/ Ông Văn Viết H, sinh năm 1978, trú tại khu phố CT, phường XT, thành phố

LK, tỉnh Đồng Nai.

(Người làm chứng bà H, bà C, ông TH có mặt, còn lại vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án

được tóm tắt như sau:

- 1 -

Khoảng 16 giờ ngày 29 tháng 6 năm 2021, sau khi sử dụng rượu bia, anh Trịnh

Văn H, sinh năm 1992 trên đường về nhà đã ghé qua quán nước của bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1964. Tại đây, anh H thấy mẹ ruột là bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1962 đang ngồi đánh bài uống nước cùng với bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1981; bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1972 (anh H, bà H, bà C, bà H, bà H cùng cư trú tại tổ 12, KP 2, phường KP 2, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai) và ông Văn Viết H, sinh năm 1978, trú tại khu phố CT, phường XT, thành phố LK, tỉnh Đồng Nai. Lúc này anh H nói đùa “ Mẹ ơi, có công an đến kìa”, nghe vậy, bà H nói anh H “ngáo đá” nên cả hai đã xảy ra mâu thuẫn. Sau đó, bà H và anh H đi về nhà nhưng vẫn tiếp tục cự cãi với nhau. Khi đến trước nhà bà H thì Nguyễn Xuân M (là con trai bà H) đang ngồi trước cửa nhà thấy vậy đã đứng dậy và nói anh H về nghỉ, đồng thời dùng tay đẩy H về làm anh H bị té ngã xuống đường. Sau đó, hai bên xảy ra mâu thuẫn, anh H chạy về nhà ở gần đó lấy 01 con dao dài 34,5cm và M cũng vào nhà mình lấy ra 01 con dao dài 33cm. Anh H cầm dao xông vào đánh M nên M đã đưa tay trái Ln đỡ, đồng thời cầm dao chém lại anh H thì được mọi người can ngăn. Anh H được người nhà đưa đến bệnh viện Đa khoa khu vực Long Khánh cấp cứu với các vết thương ở đỉnh đầu, tay trái, tay phải và xây xát da vùng lưng. Còn M cũng bị xây xát nhẹ vùng lưng, gối phải và góc cổ tay trái. Do bị thương tích nhẹ nên M đã từ chối giám định và không yêu cầu gì.

Theo giấy chứng nhận thương tích số 1241/CN-BV ngày 15 tháng 7 năm 2021 của

Bệnh viện đa khoa khu vực Long Khánh, thể hiện:

Ông Trịnh Văn H vào viện lúc 18 giờ 35 phút ngày 29/6/2021, có những thương

tích sau:

Vết thương giữa ngoài cánh tay trái kích thước khoảng 10cm x 03cm, bờ sắc gọn

lộ cơ. Mở rộng vết thương thêm 05cm về mỗi phía, thám sát thấy không đứt thần kinh quay; vết thương đỉnh đầu kích thước: 0,5cm x 0,5cm; vết thương cẳng tay trái kích thước: 03cm x 01cm; vết thương cẳng tay pH kích thước: 02cm x 01cm; xây xát da vùng lưng, xây xát da ngón 1 tay trái.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 0648/TgT/2021 ngày

30/8/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Đồng Nai kết luận về thương tích của anh Trịnh Văn H như sau:

1. Dấu hiệu chính qua giám định:

Sẹo thái dương trái kích thước 2,5 x 0,2cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ:

01%; sẹo cánh tay trái kích thước 6,5 x 0,4cm (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 02%; sẹo mổ nối vết thương cánh tay trái kích thước 03 x 0,4cm (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ: 02%; sẹo mổ nối vết thương cánh tay trái kích thước 1,5 x 0,4cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%; sẹo cẳng tay trái kích thước 2,5 x 0,3cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%; sẹo cẳng tay pH không liên tục kích thước 4,5 x 0,2cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ: 01%; sẹo lưng trái kích thước 3,5 x 0,3cm (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ 02%; sẹo lưng trái kích thước 04 x 0,3cm (Áp dụng Chương 8, mục I.2). Tỷ lệ 02%; sẹo ngón tay trái kích thước 01 x 0,2cm (Áp dụng Chương 8, mục I.1). Tỷ lệ 01%; vết biến đổi sắc tố da khuỷu pH kích thước 2,7 x 0,5cm (Áp dụng Chương 8, mục V). Tỷ lệ 01%; tổn thương đứt cơ tam đầu cánh tay trái hiện gây hạn chế gấp khuỷu tay trái mức độ nhẹ (Áp dụng Chương 8, mục II.6). Tỷ lệ 05%;

2. Kết luận:

- 2 -

Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019, của Bộ trưởng Bộ y tế

Quy định tỷ lệ tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên tại thời điểm giám định của nạn nhân Trịnh Văn H áp dụng theo phương pháp cộng tại Thông tư là 18% (Mười tám phần trăm).

3. Kết luận khác:

Thương tích đầu, lưng, cánh tay trái, cẳng tay hai bên, bàn tay trái: Vật sắc;

thương tích khuỷu phải: Vật tày.

Bị cáo Nguyễn Xuân M đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình.

Trong vụ án trên người bị hại cũng có một phần lỗi.

Vật chứng thu giữ, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Long Khánh đã

thu giữ: 01 con dao dài 34,5cm, cán gỗ 14cm, lưỡi 20,5cm, lưỡi sắt bản rộng 5cm, loại dao thái thịt; 01 con dao cán gỗ dài 10cm, phần lưỡi dao dài 23cm, rộng 5cm. Hiện các vật chứng trên đang được tạm giữ để phục vụ cho công tác xét xử.

Về bồi thường dân sự: Bị hại anh Trịnh Văn H yêu cầu bồi thường số tiền

15.000.000 đồng, bị can M đồng ý bồi thường nhưng hiện chưa có tiền để bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS-LK ngày 17/3/2022 của Viện kiểm sát nhân

dân thành phố Long Khánh truy tố bị cáo Nguyễn Xuân M về tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

Tại phiên tòa đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh giữ

nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản Cáo trạng số: 27/CT-VKS-LK ngày 17/3/2022 và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38

của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017), cùng nhân thân, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên phạt bị cáo Nguyễn Xuân M mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù.

Xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự,

khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự đề nghị tuyên tiêu hủy 01 con dao dài 34,5cm, cán gỗ 14cm, lưỡi 20,5cm, lưỡi sắt bản rộng 5cm, loại dao thái thịt và 01 con dao cán gỗ dài 10cm, phần lưỡi dao dài 23cm, rộng 5cm.

Về dân sự: Tại phiên tòa bị hại yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000

đồng, nhưng bị cáo M chỉ đồng ý bồi thường tiền viện phí và tiền công lao động bị mất là 8.000.000 đồng. Xét thấy, các khoản tiền bị hại yêu cầu là chính đáng và đều có hóa đơn chứng từ hợp lý, nên cần buộc bị cáo M pH bồi thường cho bị hại số tiền 15.000.000 đồng.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội

đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều

tra Công an thành phố Long Khánh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ Luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại

- 3 -

phiên tòa bị cáo, bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Xét hành vi phạm tội của bị cáo nhận thấy:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Xuân khai nhận hành vi phạm

tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai bị hại, người làm chứng và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện:

Vào khoảng 16 giờ ngày 29 tháng 6 năm 2021, tại tổ 12, KP 2, phường KP 2,

thành phố Long Khánh, tỉnh Đồng Nai, do có mâu thuẫn với nhau từ trước, Nguyễn Xuân M đã có hành vi dùng dao gây thương tích cho anh Trịnh Văn H, với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Hành vi dùng dao của Nguyễn Xuân M gây thương tích cho bị hại là hung khí nguy hiểm được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, do tỷ lệ tổn thương cơ thể của bị hại là 18% nên hành vi của M đã phạm vào điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự. Do đó, hành vi của bị cáo đủ yếu tố cấu thành tội: “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét thấy, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ giữa anh Trịnh Văn H và bà Nguyễn Thị H

(mẹ ruột bị cáo) trước đó, nên Nguyễn Xuân M đã dùng tay đẩy anh H đi về làm anh H té ngã xuống đường, dẫn đến việc hai bên dùng dao chém nhau gây thương tích, hậu quả là bị cáo Nguyễn Xuân M gây thương tích cho anh Trịnh Văn H với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 18%. Mặc dù, bị hại cũng có một phần lỗi, nhưng thể hiện bị cáo xem thường pháp luật, tính mạng, sức khỏe người khác. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm đến sức khỏe của người khác, mà còn gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tại địa phương. Do đó, cũng cần pH có mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo gây ra nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

[3] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối

với bị cáo:

Xét thấy, bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại

khoản 1 Điều 52 của Bộ luật Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo và tỏ ra ăn năn, hối cải, bị hại có một phần lỗi, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017), nên cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo khi lượng hình.

[4] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đồng ý bồi thường cho bị

hại số tiền 15.000.000 đồng. Tuy nhiên, tại phiên tòa bị cáo thay đổi lời khai và chỉ đồng ý bồi thường cho bị hại số tiền 8.000.000 đồng, bị hại anh Trịnh Văn H vẫn giữ nguyên yêu cầu buộc bị cáo bồi thường số tiền 15.000.000 đồng, trong đó gồm: 6.000.000 đồng tiền viện phí, chi phí giám định, tiền thuốc; 2.000.000 đồng tiền công lao động bị mất (công thợ hồ 500.000 đồng/ngày x 4 ngày nằm viện) và 7.000.000 đồng tiền bù đắp tổn thất tinh thần. Xét thấy, các khoản bị hại yêu cầu là có cơ sở và bị hại đã cung cấp đầy đủ các hóa đơn, chứng từ hợp lý, nên cần chấp nhận và buộc bị cáo Nguyễn Xuân M bồi thường cho anh Trịnh Văn H số tiền 15.000.000 đồng.

[5] Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật

tố tụng hình sự.

- 4 -

Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 34,5cm, cán gỗ 14cm, lưỡi 20,5cm, lưỡi sắt

bản rộng 5cm, loại dao thái thịt; 01 con dao cán gỗ dài 10cm, phần lưỡi dao dài 23cm, rộng 5cm (vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2022).

[6] Về án phí: Bị cáo pH nộp án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm theo quy

định của pháp luật.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Long Khánh phù hợp với

nhận định của Hội đồng xét xử, nên chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm a khoản 1, điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm s khoản 1, khoản 2

Điều 51, Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi bổ sung năm 2017).

[1]. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Xuân M phạm tội: “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Xuân M 02 (Hai) năm tù. Áp dụng khoản 2 Điều 329

của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, bắt tạm giam bị cáo Nguyễn Xuân M ngay tại phiên tòa. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt tạm, giam bị cáo.

[2]. Về dân sự: Áp dụng Điều 584, Điều 585 và Điều 590 của Bộ luật dân sự

năm 2015. Buộc bị cáo Nguyễn Xuân M phải bồi thường cho anh Trịnh Văn H số tiền 15.000.000 đồng.

[3]. Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật

tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 con dao dài 34,5cm, cán gỗ 14cm, lưỡi 20,5cm, lưỡi sắt bản rộng 5cm, loại dao thái thịt; 01 con dao cán gỗ dài 10cm, phần lưỡi dao dài 23cm, rộng 5cm (vật chứng do Chi cục thi hành án dân sự thành phố Long Khánh đang quản lý theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 01/4/2022).

[3]. Về án phí: Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày

30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Buộc bị cáo pH nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 750.000 đồng (Bảy trăm năm mươi nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

[4]. Về quyền kháng cáo đối với Bản án: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo

bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ