vanban.org

Bản án 55/2022/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Lào Cai, tỉnh Lào Cai Tuyên án 08/06/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích” Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Hoàng Đình T phạm tội "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa…"
  • Tòa quyết gì? Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP Hướng dẫn áp dụng Điều 65 của…; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ LÀO CAI
TỈNH LÀO CAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày 08 - 6 - 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LÀO CAI - TỈNH LÀO CAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Tuyết Lanh

Các Hội thẩm nhân dân: Bà Mai Thị Hiền; Ông Ngô Đức Việt

- Thư ký phiên toà: Bà Nông Thanh Huyền - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Quốc Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 6 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 22/2022/TLST- HS ngày 01 tháng 4 năm 2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/QĐXXST- HS ngày 12 tháng 5 năm 2022 và quyết định hoãn phiên toà số: 14/2022/HSST-QĐ ngày 25/5/2022 đối với bị cáo:

Họ và tên: Hoàng Đình T - Sinh ngày 01 tháng 8 năm 1980 tại xã Cường Thịnh, huyện Trấn Yên, tỉnh Yên Bái.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn H, xã V, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Nơi ở hiện tại: Số nhà 264, đường Đ, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai

Nghề nghiệp: Tự do; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Hoàng Đình C và bà Hoàng Thị S; Có vợ là Nguyễn Thị H; Bị cáo có 05 con; Tiền án: Không; Tiền sự: Không; Bị cáo được tại ngoại. “Có mặt”.

- Người bị hại:Anh Lê Chí D - Sinh năm 1984

Nơi cư trú: Tổ 15, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Có mặt”

- Những người làm chứng

+ Bà Nguyễn Thị V - Nơi cư trú: Tổ 15, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”

+ Chị Nguyễn Thị H - Nơi cư trú: Tổ 15, phường C, thành phố L, tỉnh Lào Cai. “Vắng mặt”

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ 30 ngày 18/9/2021, anh Lê Chí D (Bị hại) đang ngồi uống nước trước cửa nhà thì chị Nguyễn Thị H, sinh năm 1981, trú tại: Số nhà 264, đường Đ, phường C, thành phố L (là hàng xóm sát cạnh nhà và là chị ruột vợ anh D) đến và nói chuyện với anh D về việc anh D đào rãnh thoát nước phía sau nhà, chảy nước thải sang phía nhà chị H bốc mùi khó chịu, chị H yêu cầu anh D cải tạo lại rãnh thoát nước để nước thải không chảy sang phía nhà chị H nữa nhưng anh D không đồng ý vì cho rằng đất nhà anh D đang trong diện quy hoạch, không nên xây dựng công trình nào. Hai bên xảy ra to tiếng, lời qua tiếng lại. Nghe thấy tiếng cãi nhau, bà Nguyễn Thị V, sinh năm 1966, trú tại: Số nhà 253, đường Đ, phường C, thành phố L sang nhà anh D hỏi xem có chuyện gì xảy ra giữa anh D và chị H. Sang đến nơi, bà V, anh D, chị H cùng đi đến khu vực rãnh nước phía sau nhà anh D để nói chuyện phải trái. Tại đây, anh D và chị H tiếp tục xảy ra cãi cọ, to tiếng, chị H liên tục có những lời lẽ xúc phạm, chửi bới anh D. Bức xúc vì bị chị H chửi, anh D ngồi xuống đưa tay phải giả vờ nhặt vật gì đó ném về phía chị H để đe dọa (thực chất anh D không cầm vật gì) thì chị H lùi lại phía sau. Lúc này, Hoàng Đình T (chồng chị H) đang ở nhà bên cạnh, nghe tiếng cãi vã giữa anh D và chị H nên đã đi từ bếp nhà T ra phía khu vực rãnh nước phía sau nhà anh D xem. Khi tiến về phía anh D, Tám nhìn thấy 02 thanh củi trên nền bếp nhà anh D thì nhặt lên, cụ thể: Tay phải T cầm 01 thanh củi gỗ keo, dài khoảng 87cm, hình trụ tròn, đường kính 7,5cm, đã bị cháy than hóa một đầu; Tay trái cầm 01 thanh gỗ nhỏ dạng cán chổi, dài khoảng 70cm, hình trụ tròn, đường kính khoảng 2,5cm. Lúc này, bà V đã can ngăn Tám: “Thôi T ơi, chúng mày đừng có đánh nhau nữa” nhưng T không nghe mà tiếp tục lao về phía anh D. Thấy vậy, anh D lùi về phía khu vực bếp lấy 01 con dao dạng dao gọt hoa quả, dài 29cm, mũi nhọn, một lưỡi sắc và đi ra phía cửa bếp. Ngay lúc này, Tám chạy đến trước mặt anh D (khoảng cách giữa T và anh D khoảng 80-100cm), cầm thanh củi gỗ keo bằng tay phải vụt 01 phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía anh D, anh D đưa tay trái lên đỡ thì bị gậy vụt trúng vào cổ tay trái. T tiếp tục cầm thanh củi vụt 01 phát nữa về phía anh D nhưng trúng cửa bếp. Cùng lúc, anh D cúi người xuống, cầm dao bằng tay phải đâm 01 phát theo hướng từ sau ra trước, trúng vào đùi trái T. Sau đó, anh D cầm dao rời khỏi hiện trường, T được đưa đi cấp cứu tại bệnh viện đa khoa tỉnh Lào Cai.

Tại Kết luận giám định số 241 ngày 29/10/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lào Cai kết luận đối với Lê Chí D: (+) Gẫy đầu dưới xương quay trái: Mức tổn hại sức khoẻ là 09%; (+) Gẫy mỏm châm trụ trái: Mức tổn hại sức khoẻ là 07%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 15%; Cơ chế chấn thương và vật gây thương tích: Chấn thương trực tiếp với vật tày.

Tại Kết luận giám định số 240 ngày 29/10/2021 của Trung tâm Pháp y tỉnh Lào Cai kết luận đối với Hoàng Đình T: (+) Sẹo nằm dọc 1/3 giữa ngoài đùi trái kích thước lớn: Mức tổn hại sức khỏe là 03%; (+) Sẹo tại vùng bả vai trái không được ghi nhận trong hồ sơ bệnh án nên không xếp mức tổn hại sức khỏe. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 03% (Ba phần trăm). Cơ chế chấn thương và vật gây thương tích: Chấn thương trực tiếp với vật cứng sắt.

Tại phiên tòa bị cáo Hoàng Đình T và bị hại anh Lê Chí D đều khai nhận ngày 18/9/2021 Hoàng Đình T đã dùng 01 thanh củi gỗ keo, dài khoảng 87cm, hình trụ tròn, đường kính 7,5cm, đã bị cháy than hóa một đầu đánh anh Lê Chí D làm anh D bị thương tích ở cổ tay trái với tổng tỷ lệ thương tích là 15%.

Cáo trạng số: 20/CT- VKSTPLC ngày 01/4/2022 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai truy tố bị cáo Hoàng Đình T về tội "Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai giữ quyền công tố tại phiên toà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo về tội danh theo bản cáo trạng đã truy tố. Sau khi phân tích, đánh giá tính chất mức độ thực hiện hành vi của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 Bộ luật Hình sự tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”, xử phạt bị cáo với mức án từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách đối với bị cáo

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo Hoàng Đình T đã bồi thường cho anh Lê Chí D số tiền 10.000.000 đồng, anh D không yêu cầu phải bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Áp dụng điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh gỗ dạng cây keo, hình trụ tròn, chiều dài 87 cm, đường kính 7,5cm, bị cháy than hóa một phần; 01 thanh gỗ hình trụ tròn, chiều dài 36,5cm, đường kính 2,4cm, bị gãy vát một đoạn dài 19cm; 01 dao dài 29cm, chuôi nhựa màu xanh dài 12cm, mũi nhọn, lưỡi dao bằng inox, một lưỡi sắc.

Tuyên án phí và quyền kháng cáo theo quy định

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an thành phố Lào Cai, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo Hoàng Đình T: Khoảng 15 giờ 30 ngày 18/9/2021, anh Lê Chí D (Bị hại) có mâu thuẫn cãi vã với chị Nguyễn Thị H (là vợ bị cáo), khi Hoàng Đình T cầm 01 thanh củi gỗ keo và 01 thanh gỗ dạng cán chổi chạy sang, nhìn thấy anh Lê Chí D tay cầm dao chạy ra, T đã dùng 01 thanh củi gỗ keo dài khoảng 87cm, hình trụ tròn, đường kính 7,5cm, đã bị cháy than hóa một đầu bằng tay phải vụt 01 phát theo hướng từ trên xuống dưới, từ phải qua trái về phía anh D, anh D đưa tay trái lên đỡ thì bị gậy vụt trúng vào cổ tay trái gây thương tích cho anh D. Tại phiên tòa bị cáo khai nhận tội, lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên toà phù hợp lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai người bị hại, người làm chứng, tang vật thu giữ, kết luận giám định và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Theo kết luận giám định thì anh Lê Chí D: Gẫy đầu dưới xương quay trái mức tổn hại sức khoẻ là 09%; Gẫy mỏm châm trụ trái mức tổn hại sức khoẻ là 07%; Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%; Cơ chế chấn thương và vật gây thương tích: Chấn thương trực tiếp với vật tày. Như vậy, có đủ cơ sở để kết luận bị cáo phạm tội “Cố ý gây thương tích”, bị cáo gây thương tích với tổng thương tật của anh Lê Chí D là 15% và dùng hung khí nguy hiểm là thanh củi gỗ keo, dài khoảng 87cm, hình trụ tròn, đường kính 7,5cm nên Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lào Cai đã truy tố bị cáo về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm đ khoản 2 điều 134 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương vì vậy cần phải xét xử một mức án nghiêm khắc tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo mới có tác dụng giáo dục, cải tạo và phòng ngừa chung.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Bị cáo đã tự nguyện bồi thường toàn bộ thiệt hại cho người bị hại; Người bị hại xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo; Bị cáo có mẹ đẻ được tặng thưởng Huy chương kháng chiến, bố đẻ được tặng thưởng Huân chương chiến sĩ vẻ vang và Huân chương kháng chiến. Do đó, cần cho bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có

Về biện pháp chấp hành hình phạt: Bị cáo có nhân thân tốt, không có tiền án, tiền sự, có nơi cư trú rõ ràng, bị cáo là lao động chính trong gia đình, đang nuôi 05 người con đều chưa thành niên, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51 của Bộ luật Hình sự. Căn cứ vào điều 65 của Bộ luật Hình sự, hướng dẫn tại nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao xét thấy cần cho bị cáo được hưởng án treo là phù hợp.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại anh Lê Chí D đã được bị cáo bồi thường 10.000.000 đồng không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về vật chứng vụ án: Cơ quan điều tra đã thu giữ 01 thanh gỗ dạng cây keo, hình trụ tròn, chiều dài 87 cm, đường kính 7,5cm, bị cháy than hóa một phần; 01 thanh gỗ hình trụ tròn, chiều dài 36,5cm, đường kính 2,4cm, bị gãy vát một đoạn dài 19cm; 01 dao dài 29cm, chuôi nhựa màu xanh dài 12cm, mũi nhọn, lưỡi dao bằng inox, một lưỡi sắc là công cụ phạm tội cần tịch thu tiêu hủy.

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về trách nhiệm hình sự, hình phạt:

Tuyên bố bị cáo Hoàng Đình T phạm tội “Cố ý gây thương tích”

Căn cứ Điểm đ khoản 2 điều 134; Điểm b, s khoản 1, khoản 2 điều 51, điều 65 của Bộ luật Hình sự: Xử phạt bị cáo Hoàng Đình T 02 (Hai) năm tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 04 (Bốn) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân phường Cốc Lếu, thành phố Lào Cai, tỉnh Lào Cai theo dõi, giám sát, giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú, làm việc thì thực hiện theo quy định tại Điều 69 Luật Thi hành án hình sự.

Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách của án treo: “Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo”.

2. Về xử lý vật chứng:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 điều 47 Bộ luật Hình sự; Điểm a khoản 2 điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 thanh gỗ dạng cây keo, hình trụ tròn, chiều dài 87 cm, đường kính 7,5cm, bị cháy than hóa một phần; 01 thanh gỗ hình trụ tròn, chiều dài 36,5cm, đường kính 2,4cm, bị gãy vát một đoạn dài 19cm; 01 dao dài 29cm, chuôi nhựa màu xanh dài 12cm, mũi nhọn, lưỡi dao bằng inox, một lưỡi sắc.

3. Về án phí:

Căn cứ vào Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: Buộc bị cáo Hoàng Đình T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

4. Quyền kháng cáo: Bị cáo, người bị hại có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

Trường hợp bản án này được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ