vanban.org

Bản án 55/2022/HS-ST — Hình sự

TAND tỉnh Vĩnh Phúc Tuyên án 11/08/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn C phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C 03 (Ba) năm tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Đỗ Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Đỗ Mạnh C - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức; tội sử dụng con dấu, tài liệu giả của cơ quan, tổ chức (điều 341 Luật s…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn C phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
TỈNH VĨNH PHÚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HS-ST
Ngày 11 - 7- 2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH PHÚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Thanh Danh.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn An;

Bà Lƣơng Thị Thu Hiền.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Bích Huệ – Thƣ ký Toà án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Thúy Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 11 tháng 7 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 48/2022/TLST - HS ngày 26 tháng 5 năm 2022 theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số 53/2022/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 6 năm 2022 đối với bị cáo:

Đỗ Văn C, sinh ngày 29 tháng 8 năm 1996 tại xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; nơi cƣ trú: Thôn Phù Lƣu, xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đỗ Văn Q và bà Phạm Thị M; vợ, con: Chƣa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; bị cáo tại ngoại tại địa phƣơng,“có mặt”.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án đƣợc tóm tắt nhƣ sau:

Khoảng đầu tháng 12/2021, C sử dụng 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneX đăng nhập 02 tài khoản mạng xã hội facebook tên “Nguyễn Linh” đăng ký bằng số điện thoại 0359.237.811 và “Ánh Vân” đăng ký bằng số điện thoại 0326.492.554 truy cập vào các trang (fanpage), các hội nhóm (group) trên mạng xã hội Facebook, C thấy có một số bài đăng tin bán và tin hỏi mua giấy khám sức khỏe, giấy chứng nhận nghỉ ốm nộp vào các công ty trên địa bàn các Khu công nghiệp huyện Bình Xuyên để xin việc và thanh toán chế độ bảo hiểm nên C đã nảy sinh ý định mua những tờ giấy khám sức khỏe giả, giấy chứng nhận nghỉ ốm giả (ghi nơi phát hành là Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc) để bán lại cho những ngƣời có nhu cầu với giá cao hơn để thu lời. Sau đó, C sử dụng tài khoản facebook tên “Nguyễn Linh” đặt mua 37 giấy khám sức khỏe giả, 03 giấy chứng nhận nghỉ ốm giả của một ngƣời sử dụng tài khoản facebook (không rõ tên tài khoản và ngƣời sử dụng) với giá 30.000 đồng/tờ. Hai ngày sau, C nhận đƣợc 37 giấy khám sức khỏe giả, 03 giấy chứng nhận nghỉ ốm giả thông qua dịch vụ ship giao hàng (không xác định đƣợc tên dịch vụ và tên ngƣời giao hàng), C thanh toán trực tiếp cho ngƣời giao hàng này số tiền 1.200.000 đồng tại đƣờng Nguyễn Tất Thành, phƣờng Khai Quang, thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc.

Sau khi mua đƣợc tổng số 40 tờ tài liệu giả (gồm 37 giấy khám sức khỏe, 03 giấy chứng nhận nghỉ ốm) nêu trên, C giao bán bằng cách sử dụng tài khoản facebook “Nguyễn Linh” và “Ánh Vân” đăng bài ở chế độ công khai bán giấy khám sức khỏe để nhiều ngƣời xem và đặt mua. Khi có ngƣời muốn mua sẽ tƣơng tác lại bằng bình luận hoặc gửi tin nhắn qua ứng dụng Messenger của tài khoản facebook trên cho C, giá bán từ 80.000 đồng đến 100.000 đồng/tờ; nếu khách đồng ý mua thì C sẽ giao trực tiếp cho họ. Bằng phƣơng thức này, C đã bán đƣợc 21 tờ Giấy khám sức khỏe giả. Cụ thể nhƣ sau:

Từ ngày 08/12/2021 đến ngày 13/12/2021, C đã bán 20 tờ Giấy khám sức khỏe cho 20 trƣờng hợp khác nhau (không nhớ tên, tuổi, địa chỉ cụ thể) với giá 80.000 đồng/01 tờ, thu đƣợc tổng số tiền 1.600.000 đồng, hƣởng lợi 1.000.000 đồng. Các trƣờng hợp mua giấy khám sức khỏe giả của C đều nhắn tin qua Mesenger cho C rồi C là ngƣời trực tiếp giao hàng cho họ tại nhiều địa điểm khác nhau nhƣ quán nƣớc vỉa hè hoặc trên đƣờng đi, C không nhớ cụ thể. Sau khi giao dịch xong, C đã xóa hết lịch sử tin nhắn trên Mesenger nên không có thông tin của 20 trƣờng hợp mua Giấy khám sức khỏe này. Do vậy, Cơ quan điều tra chƣa xác định đƣợc danh tính và chƣa làm việc đƣợc với các trƣờng hợp đã mua các giấy chứng nhận giả này của C.

Ngày 13/12/2021, anh Đàm Minh H, sinh năm 2003, trú tại thôn Y Nhân, xã Đông Thọ, huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang sử dụng tài khoản facebook tên “Đàm Anh H” để nhắn tin Messenger đến tài khoản “Nguyễn Linh” của C hỏi mua hộ 01 tờ Giấy khám sức khỏe cho bạn là anh Trần Văn T, sinh năm 2003, trú tại thôn Đồng Nội, xã Đồng Quý, huyện Sơn Dƣơng, tỉnh Tuyên Quang, C đồng ý. Sau đó, anh H cho C số điện thoại của anh T là 0984.677.594 để liên hệ mua bán giấy khám sức khỏe với nhau. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 14/12/2021, C và anh T gặp nhau tại khu vực cổng của Công ty Interflex Vina – Khu công nghiệp Bá Thiện I thuộc thị trấn Bá Hiến, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để trao đổi mua bán. Tại đây, C bán cho T 01 tờ giấy khám sức khỏe giả với giá 100.000 đồng, hƣởng lợi 70.000 đồng. Sau khi mua 01 tờ giấy trên anh T để tại phòng trọ, sau đó đã giao nộp cho Cơ quan điều tra để phục vụ điều tra.

Ngày 15/12/2021, C mang theo 16 tờ Giấy khám sức khỏe giả và 03 Giấy chứng nhận nghỉ ốm đến khu vực cổng Khu Công nghiệp Thăng Long 3 thuộc xã Thiện Kế, huyện Bình Xuyên, tỉnh Vĩnh Phúc để xem có ai mua thì bán kiếm lời. Tại đây,C chƣa kịp bán thì bị Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc kiểm tra, phát hiện lập biên bản sự việc.

Tang vật thu giữ gồm: 16 tờ giấy khám sức khỏe giả và 03 Giấy chứng nhận nghi ốm có đặc điểm nhƣ sau:

- 16 tờ Giấy khám sức khỏe giả có đặc điểm:“Giấy khổ A3, trích yếu là “GIẤY KHÁM SỨC KHỎE”; góc trên cùng bên trái ghi “SỞ Y TẾ TỈNH VĨNH PHÚC – ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC”. Nội dung trên khổ giấy là chữ in dạng kiểu mẫu Giấy khám sức khỏe; phần thông tin ngƣời khám sức khỏe chƣa điền thông tin, chƣa dán ảnh. Tại góc dƣới “ảnh 4x6cm” để dán ảnh có hình dấu tròn, giữa có nội dung “BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC”, viền dấu này có nội dung “*SỞ Y TẾ* TỈNH VĨNH PHÚC”, hình dấu này màu đỏ (sau đây gọi là hình dấu (1)). Tại các mục “I. KHÁM THỂ LỰC”, “II. KHÁM LÂM SÀNG”, “III.KHÁM CẬN LÂM SÀNG”, có thông tin dạng số đƣợc điền vào theo mẫu. Tại cột “Họ, tên, chữ ký của Bác sỹ” có hình chữ ký khác nhau, dƣới các chữ này có hình dấu tên “BSCKII Dƣơng Thị Vân”, “BSCKII Bùi Ngọc Hải”, “BSCKII Lƣu Văn Mạnh”, dấu tên này hình mực màu xanh. Tại vị trí giáp lai hai trang giấy có hình dấu (1). Mục “2. Xét nghiệm nƣớc tiểu” có hình dấu “Âm tính (-)”, mục “3. Chuẩn đoán hình ảnh X- Quang tim phổi” có hình dấu “X – Quang tim phổi bình thƣờng”, “THS –BS: Bùi Tiến Hùng”, mực 02 hình dấu này màu đỏ. Tại mục “V.Kết luận” có hình dấu “Hiện đủ sức khỏe để học tập, công tác”, mực màu xanh. Tại dƣới mục “Ngƣời kết luận” có hình dấu (1), phía dƣới phần bên phải là hình chữ ký, hình chữ ký này bị đè hình dấu tên “PHÓ GIÁM ĐỐC Lê Văn Tịnh””.

- 03 tờ Giấy chứng nhận nghỉ ốm có đặc điểm: “Giấy khổ A5, trích yếu là “GIẤY CHỨNG NHẬN NGHỈ ỐM”. Mục “I. Thông tin ngƣời bệnh” và “II.Chuẩn đoán và phƣơng pháp điều trị”, phần nội dung bỏ trống. Góc bên trái dƣới cùng có hình dấu tròn, giữa có nội dung “BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC”, viền dấu này có nội dung “*SỞ Y TẾ* TỈNH VĨNH PHÚC”, hình dấu này màu đỏ. Tại vị trí trên và dƣới hình dấu này có ghi “XÁC NHẬN CỦA THỦ TRƢỞNG ĐƠN VỊ, GIÁM ĐỐC Lê Văn Tịch” và chữ ký màu xanh. Tại góc cuối cùng bên phải có ghi “Ngƣời hành nghề KB, CB; Trƣởng khoa TS.BS. Ngô Anh Thế” và chữ ký màu xanh”.

Về vật chứng thu giữ:

Ngày 15/12/2021, Cơ quan điều tra đã thu giữ đƣợc 20 tờ giấy khám sức khỏe giả và 03 tờ giấy chứng nhận nghỉ ốm để phục vụ công tác giám định, trong đó:

+ Thu giữ của Đỗ Văn C 16 tờ Giấy khám sức khỏe, đƣợc ký hiệu lần lƣợt từ B1 đến B16; 03 tờ giấy chứng nhận nghỉ ốm, đƣợc ký hiệu lần lƣợt B17, B18, B19.

+ Tạm giữ của C 01 điện thoại di động nhãn hiệu IphoneX.

+ Thu giữ của anh Trần Văn T 01 tờ Giấy khám sức khỏe, đƣợc ký hiệu F1.

Ngày 28/3/2022, Đỗ Văn C tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc số tiền 1.070.000 đồng thu lợi bất chính từ việc bán Giấy khám sức khỏe giả.

Kết quả xác minh tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc:

Ngày 20/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc xác minh tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc, kết quả Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cho biết nhƣ sau: “Hiện nay ông Lê Văn Tịnh là Giám đốc Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Từ ngày 01/12/2021 đến nay, không có bác sỹ nào có tên là: BSCKII. Dƣơng Thị Vân; BSCKII. Lƣu Văn Mạnh; BSCKII. Bùi Ngọc Hải; TS.BS. Bùi Tiến Hùng; TS.BS. Ngô Anh Thế công tác tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc. Tại Bệnh viện này có sử dụng 01 con dấu gồm: dấu tròn “SỞ Y TẾTỈNH VĨNH PHÚC BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC”; không sử dụng các con dấu có nội dung là: “ÂM TÍNH (-)”; “X-QUANG TIM PHỔI BÌNH THƢỜNG; HIỆN ĐỦ SỨC KHỎE ĐỂ HỌC TẬP CÔNG TÁC”. Cơ quan điều tra đã thu thập 06 biểu mẫu Giấy khám sức khỏe; 02 Giấy chứng nhận nghỉ việc hƣởng bảo hiểm xã hội, có đóng dấu của Bệnh viện để phục vụ công tác giám định.

+ 06 biểu mẫu Giấy khám sức khỏe của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc đƣợc in trên khổ giấy A4, chữ dạng in, in dọc, in hai mặt, giữa khổ giấy mặt trƣớc và mặt sau có hình lô gô nội dung “*BỆNH VIỆN ĐA KHOA* TỈNH VĨNH PHÚC”, cuối trang văn bản dƣới mục “NGƢỜI KẾT LUẬN” có 02 hình mã vạch QR Code. Trong đó, biểu mẫu giấy khám sức khỏe áp dụng từ thời điểm trƣớc ngày 01/8/2021, biểu mẫu này sau khi in không hiển thị sẵn thông tin ngày, tháng, năm cuối trang (mục này để điền bằng tay); còn lại Giấy khám sức khỏe áp dụng từ ngày 01/8/2021 đến nay biểu mẫu sau khi in hiển thị sẵn thông tin ngày, tháng, năm ở cuối trang. Đều đƣợc đóng dấu treo xác nhận của bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.

+02 Giấy chứng nhận nghỉ việc hƣởng bảo hiểm xã hội. Các biểu mẫu này đƣợc in một mặt trên khổ giấy A4, chữ dạng in, in ngang, in một mặt, góc trái trên cùng cạnh mục “SỞ Y TẾ - Bệnh viện đa khoa tỉnh” có hình lô gô nhỏ có nội dung “BỆNH VIỆN ĐA KHOA * TỈNH VĨNH PHÚC”. Trong đó, có 01 biểu mẫu có 02 hình mã vạch QR Code dƣới góc cuối văn bản đƣợc áp dụng trƣớc thời điểm 01/8/2021, còn 01 biểu mẫu không có 02 hình mã vạch QR Code đƣợc áp dụng từ thời điểm 01/8/2021 đến nay. Đều đƣợc đóng dấu treo xác nhận của bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc.

Đại diện Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp: Các mẫu trên đƣợc in từ phần mềm quản lý của Bệnh viện, chỉ cung cấp đƣợc biểu mẫu đã có thông tin, lý do; nếu không có thông tin về bệnh nhân thì không in đƣợc mẫu trực tiếp từ hệ thống khám chữa bệnh của Bệnh viện”.

Ngày 18/12/2021, Cơ quan CSĐT Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã ra các Quyết định trƣng cầu giám định số 572, ,573, 574, 575, 576, 577, 578, 579, 580, 581 trƣng cầu giám định đối với 20 tờ tài liệu nêu trên. Tại Bản kết luận giám định các số 369, 370, 371, 372 ngày 01/02/2022, các số 395, 396, 397, 401 ngày 11/02/2022, các số 467, 472 ngày 22/02/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Vĩnh Phúc kết luận:

“+ Các hình dấu tròn màu đỏ có nội dung: “SỞ Y TẾ ★ TỈNH VĨNH PHÚC ★ BỆNH VIỆN ĐA KHOA TỈNH VĨNH PHÚC” trên các mẫu cần giám định đƣợc tạo thành bằng phƣơng pháp đóng dấu trực tiếp, so với hình dấu tròn màu đỏ có nội dung tƣơng ứng trên mẫu so sánh ký hiệu M2 (do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp) không phải do cùng một con dấu đóng ra.

+ Chữ ký đứng tên “PHÓ GIÁM ĐỐC Lê Văn Tịnh” trên các mẫu cần giám định là chữ ký trực tiếp.

+ Không đủ cơ sở kết luận chữ ký Phó giám đốc Lê Văn Tịnh trên mẫu cần giám định với chữ ký ông Lê Văn Tịnh trên mẫu so sánh ký hiệu M2 (do Bệnh viện Đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc cung cấp) có phải do một ngƣời ký ra hay không, do chữ ký khác dạng”.

Ngày 20/12/2021 Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trƣng cầu giám định kỹ thuật số điện tử đối với điện thoại thu giữ của Đỗ Văn C. Tại Bản kết luận giám định số 102 ngày 07/01/2022 của Phòng Kỹ thuật hình sự công an tỉnh kết luận: Từ ngày 01/12/2021 đến ngày 15/12/2021, có: 237 cuộc gọi trong lịch sử cuộc gọi (bao gồm cả cuộc gọi qua ứng dụng Zalo); 148 tin nhắn SMS, 350 tin nhắn qua ứng dụng Apple Messages, 1256 tin nhắn Zalo và 334 Mb dữ liệu hình ảnh. Số thuê bao trên sim lắp trong điện thoại gửi giám định là +84988022669. Kết quả kiểm tra dữ liệu không có thông tin liên quan đến vụ án.

Kết quả xác minh các thuê bao điện thoại:

Ngày 28/02/2022 và ngày 14/3/2022, Cơ quan điều tra Công an tỉnh Vĩnh Phúc đã có Công văn đề nghị Tập đoàn Công nghiệp – Viễn thông Quân đội Viettel cung cấp thông tin thuê bao và chi tiết lịch sử đối với 04 số điện thoại lần lƣợt là 0988022669, 0359237811, 0326492554 của C, trong đó: Số 0988.022.669 đăng ký chính chủ tên C hàng ngày sử dụng để liên lạc công việc gia đình, còn 02 số 0359.237.811, 0326.492.554 không đăng ký chính chủ, dùng lập tài khoản facebook phục vụ mua, bán giấy khám sức khỏe giả và số điện thoại 0984677594 của Trần Văn T. Kết quả:

Đối với số thuê bao 0988.022.669, lắp sim trên chiếc Iphone X của C bị tạm giữ do Đỗ Văn C đứng tên đăng ký chính chủ. Kiểm tra chi tiết lịch sử liên lạc không có thông tin liên quan đến vụ án.

Đối với số thuê bao 0326.492.554 đƣợc đăng ký chính chủ mang tên Đặng Thị Chất, sinh năm 1999, trú tại Thôn Cây Mơ, xã Xuân Lai, huyện Yên Bình, tỉnh Yên Bái; Chị Chất khai không biết, không có quan hệ gì với Đỗ Văn C và Trần Văn T; không biết số điện thoại 0326.492.554; không biết gì về sự việc vi phạm nêu trên của C. Còn C khai mua sim rác để sử dụng vào việc gọi và đăng ký tài khoản Facebook “Ánh Vân” phục vụ mua bán giấy khám sức khỏe giả. Số điện thoại này đƣợc lắp bên trong điện thoại nhãn hiệu Nokia màu đen đã bị C làm rơi mất vào chiều tối ngày 14/12/2021. Quá trình điều tra, Đỗ Văn C và Trần Văn T đều khai vào ngày 13/12/2021 C đã sử dụng số điện thoại 0326.492.554 liên lạc vào số điện thoại 0984677594 của T rồi gặp nhau và C bán cho T 01 tờ giấy khám sức khỏe giả. Kiểm tra thông tin chủ thuê bao và lịch sử chi tiết lịch sử liên lạc của 02 số điện thoại nêu trên, xác định: số 0984.677.594 đăng ký chính chủ Trần Văn T; Chi tiết lịch sử liên lạc ngày 13/12/2021 có 05 cuộc gọi qua lại giữa 02 số 0326.492.554 (số điện thoại của C) và 0984.677.594 (số điện thoại của T) để mua bán giấy khám sức khỏe giả.

Đối với số điện thoại 0359.237.811 đăng ký chủ thuê bao là anh Đỗ Văn Ninh, sinh năm 2000, trú tại: Thôn Phù Lƣu, xã Tam Hồng, huyện Yên Lạc, tỉnh Vĩnh Phúc. C khai vào đầu năm 2021 C đƣợc em họ là Đỗ Văn Ninh cho mƣợn thẻ sim số điện thoại 0359.237.811 nêu trên để sử dụng khi đi giao hàng (Shiper). Sau đó C đã sử dụng đăng ký tài khoản mạng xã hội facebook tên “Nguyễn Linh”. Từ khoảng tháng 6/2021, do có nhiều mối quan hệ thƣờng liên lạc với anh Ninh qua số điện thoại 0359.237.811 nên anh Ninh đã yêu cầu C trả lại số điện thoại này cho anh Ninh. Tuy nhiên C vẫn sử dụng tài khoản mạng xã hội facebook tên “Nguyễn Linh” và dùng vào việc đăng tin, giao dịch mua bán giấy khám sức khỏe giả và không cho Ninh biết. Cơ quan điều tra đã ghi lời khai anh Đỗ Văn Ninh xác nhận việc cho C mƣợn thẻ sim nhƣ nêu trên nhƣng không biết gì về việc C mua bán giấy khám sức khỏe giả và không giúp sức cho việc đó.

Cáo trạng số 53/CT-VKS-P2 ngày 24 tháng 5 năm 2022 Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc truy tố bị cáo Đỗ Văn C về tội "Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức" theo điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội, giữ nguyên quan điểm truy tố nhƣ cáo trạng đối với bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử.

Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2, khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C 03 (Ba) năm tù, cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Về xử lý vật chứng: Đề nghị tịch thu nộp vào ngân sách nhà nƣớc toàn bộ số tiền thu lời bất chính do phạm tội mà có của bị cáo Đỗ Văn C; tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nƣớc tài sản có giá trị sử dụng dùng làm phƣơng tiện phạm tội.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã đƣợc tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định nhƣ sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử đƣợc thực hiện đầy đủ, đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của ngƣời tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi của ngƣời tiến hành tố tụng trong vụ án là hợp pháp.

Quá trình điều tra cũng nhƣ tại phiên tòa, bị cáo Đỗ Văn C đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình đúng nhƣ nội dung Cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Vĩnh Phúc. Bị cáo khai nhận khoảng đầu tháng 12 năm 2021, Đỗ Văn C đã có hành vi mua tài liệu giả là “Giấy khám sức khỏe” và “Giấy chứng nhận nghỉ ốm của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc” của một ngƣời không rõ lai lịch trên mạng xã hội nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. C đã bán đƣợc 21 tài liệu giả và số tiền thu lợi bất chính từ việc bán giấy tờ giả tổng cộng là 1.070.000 đồng (Một triệu không trăm bảy mƣơi nghìn đồng).

Xét lời khai nhận tội của bị cáo là phù hợp nhau, phù hợp với các tài liệu có trong hồ sơ nhƣ lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra; các kết luận giám định cùng các tài liệu, chứng cứ khác đƣợc thu thập hợp pháp có trong hồ sơ vụ án đã đƣợc thẩm tra tại phiên tòa.

Đỗ Văn C biết rõ giấy khám sức khỏe và giấy chứng nhận nghỉ ốm của Bệnh viện đa khoa tỉnh Vĩnh Phúc là giấy tờ giả nhƣng vẫn liên lạc để mua nhằm mục đích bán lại để kiếm lời. Hành vi của bị cáo là đồng phạm với đối tƣợng làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức nhà nƣớc, cụ thể C tham gia tội phạm với vai trò là ngƣời giúp sức để tiêu thụ giấy tờ giả. Vì vậy, có đủ cơ sở để kết luận hành vi của bị cáo Đỗ Văn C đã phạm vào tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức” quy định tại Điều 341 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Đỗ Văn C đã có hành vi giúp sức tiêu thụ 40 tài liệu giả nên phải chịu tình tiết định khung quy định tại điểm a khoản 3 Điều 341 Bộ luật Hình sự có khung hình phạt tù từ 03 năm đến 07 năm.

Xét tính chất vụ án là nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, xâm phạm hoạt động đúng đắn của cơ quan, tổ chức, làm thất thu cho ngân sách nhà nƣớc nên cần phải xử lý bằng pháp luật hình sự nhằm mục đích giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

Xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thấy rằng:

Bị cáo Đỗ Văn C đƣợc hƣởng hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 và hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự đó là quá trình điều tra và tại phiên tòa thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; tự nguyện khắc phục hậu quả nộp lại toàn bộ số tiền do phạm tội mà có; bị cáo đã hoàn thành nghĩa vụ quân sự.

Thấy rằng, hành vi phạm tội của bị cáo Đỗ Văn C chỉ mang tính bột phát do thiểu hiểu biết về pháp luật; trƣớc khi phạm tội bị cáo có nhân thân tốt, có nơi cƣ trú ổn định, rõ ràng; đƣợc hƣởng nhiều tình tiết giảm nhẹ; số lƣợng tài liệu làm giả ít và số tiền thu lợi bất chính nhỏ; phạm tội lần đầu và đã chủ động khắc phục hậu quả nên hành vi của bị cáo đáng đƣợc khoan hồng. Bị cáo C có đủ điều kiện quy định tại Điều 65 Bộ luật Hình sự và có khả năng tự cải tạo tại địa phƣơng; việc cho bị cáo hƣởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không ảnh hƣởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn trên địa bàn và cũng không ảnh hƣởng đến công cuộc đấu tranh phòng chống tội phạm trong giai đoạn hiện nay. Vì vậy, không cần thiết bắt bị cáo phải chấp hành hình phạt tù tại trại giam mà cho bị cáo đƣợc hƣởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định và giao cho chính quyền địa phƣơng nơi thƣờng trú giám sát, giáo dục nhƣ đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là đủ để răn đe, phòng ngừa cũng nhƣ tạo điều kiện giúp bị cáo có cơ hội đƣợc tự cải tạo, sửa chữa sai lầm và tiếp tục làm việc cống hiến cho xã hội.

Kết quả điều tra nguồn gốc Giấy khám sức khỏe giả, giấy chứng nhận nghỉ ốm mà Đỗ Văn C đặt mua qua tài khoản Facebook xác định không phát hiện thông tin gì về đối tƣợng đã bán giấy tờ giả cho C. Hiện Cơ quan điều tra đang tiếp tục điều tra, khi nào làm rõ đối tƣợng bán giấy tờ giả cho C sẽ xử lý sau là phù hợp.

Về vật chứng: Cần tịch thu để sung vào ngân sách nhà nƣớc toàn bộ số tiền của bị cáo do phạm tội mà có. Tịch thu, phát mại sung ngân sách nhà nƣớc chiếc điện thoại di động của bị cáo đƣợc sử dụng làm công cụ, phƣơng tiện phạm tội.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Đỗ Văn C phạm tội “Làm giả tài liệu của cơ quan, tổ chức”.

Căn cứ điểm a khoản 3 Điều 341; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; khoản 1, khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Đỗ Văn C 03 (Ba) năm tù cho hƣởng án treo, thời gian thử thách 05 (Năm) năm, thời hạn thử thách tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Giao bị cáo Đỗ Văn C cho Ủy ban nhân dân xã T, huyện Y, tỉnh Vĩnh Phúc giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trƣờng hợp ngƣời đƣợc hƣởng án treo thay đổi nơi cƣ trú thì thực hiện theo quy định của pháp luật về thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu ngƣời đƣợc hƣởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc ngƣời đƣợc hƣởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hƣởng án treo.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Tịch thu sung vào ngân sách nhà nƣớc số tiền 1.070.000 đồng (Một triệu không trăm bảy mƣơi nghìn đồng) của bị cáo Đỗ Văn C do phạm tội mà có.

Tịch thu, phát mại sung vào ngân sách nhà nƣớc chiếc điện thoại di động nhãn hiệu IphoneX của bị cáo Đỗ Văn C đƣợc sử dụng vào việc phạm tội.

Chiếc điện thoại và số tiền nêu trên có đặc điểm nhƣ Biên bản giao, nhận vật chứng do Cục Thi hành án dân sự tỉnh Vĩnh Phúc lập ngày 27 tháng 5 năm 2022.

Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thƣờng vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Đỗ Văn C phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án./.

Cỡ chữ