- Tranh chấp gì? án hình sự — "Phan Mậu T - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Phan Mậu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu giữ
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM QUẬN THANH KHÊ – TP. ĐÀ NẴNG Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2022/HS-ST |
Ngày: 01-6-2022
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN THANH KHÊ, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Ánh
Các Hội thẩm nhân dân:
+ Ông Trần Minh Tám
+ Bà Lê Thị Nhớ
Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Quỳnh Như.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Quyên - Kiểm sát viên.
Ngày 01 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 37/2022/TLST-HS ngày 29 tháng 4 năm 2022 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 37/2022/QĐXXST–HS ngày 18 tháng 5 năm 2022 đối với:
Bị cáo: Phan Mậu T, tên gọi khác: Không, sinh năm 1968 tại TP. H; Nơi ĐKHKTT: K408/17/9 T, phường H, quận H, thành phố Đ; Nơi cư trú: Không có nơi cư trú rõ ràng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Phan Văn V (chết) và bà Cao Thị Q (chết).
- Tiền án: Không
- Tiền sự: Ngày 09/5/2021, bị Công an quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng xử phạt hành chính về hành vi “Trộm cắp tài sản” bằng hình thức phạt tiền (1.500.000 đồng), T chưa nộp tiền phạt.
Nhân T:
+ Ngày 25/8/1986, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam - Đà Nẵng xử phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155 BLTTHS năm 1985 theo Bản án số 124/1986/HSST.
+ Ngày 12/4/1988, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155 BLHS năm 1985 theo Bản án số 34/1988/HSST.
+ Ngày 9/11/1991, bị Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam-Đà Nẵng xử phạt 24 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản của công dân” quy định tại khoản 1 Điều 155, các điểm b, h khoản 1 Điều 38, BLHS năm 1985 theo Bản án số 141/1991/HSST. Đến ngày 10/3/1992, Tòa án nhân dân thành phố Đà Nẵng, tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng xét xử phúc thẩm y án sơ thẩm theo Bản án số 12/1/1992/HSPT.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 17/02/2022. (Có mặt tại phiên tòa).
- Bị hại: Nguyễn Thanh V, sinh năm: 1997. Địa chỉ: Số 02 Đ, phường A, quận S, thành phố Đ.(Vắng mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Chị Nguyễn Thị Thanh N, sinh năm: 1965; Địa chỉ: K266/H79/26E H, phường B, quận H, thành phố Đ. (Vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 05 giờ ngày 26/10/2021, anh Nguyễn Thanh V điều khiển xe đạp hiệu Force FR-800 đến dựng xe, không khóa để tại vỉa hè trước tiệm bánh mỳ Xíu địa chỉ 143 Lê Độ, phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng để vào tiệm làm việc. Đến khoảng 13 giờ 30 phút cùng ngày, Phan Mậu T đi Nng tiệm bánh mỳ Xíu thấy xe đạp của anh V đang dựng trên vỉa hè, không khóa. T đi đến quan sát, không có người trông coi nên lấy trộm chiếc xe đạp dắt đi đến dựng tại nhà chị Nguyễn Thị Thanh N để mua rượu ngồi uống. Do say rượu nên khi ra về, T để quên chiếc xe đạp trộm được tại nhà chị N.
Đến 15 giờ ngày 02/11/2021, anh V đến công an phường Chính Gián, quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng trình báo việc bị mất trộm xe đạp và giao nộp một đĩa CD sao chép đoạn camera an ninh ghi lại hành vi trộm xe đạp của T. Công an phường Chính Gián triệu tập T đến làm việc. Tại đây, T khai nhận hành vi trộm cắp xe đạp của mình .
Bản Kết luận định giá tài sản ngày 17/11/2021 của Hội đồng định giá trị tài sản trong tố tụng hình sự quận Thanh Khê xác định chiếc xe đạp Force FR-800 có trị giá 3.200.000 đồng.
Vật chứng tạm giữ: 01 (một) xe đạp thể thao màu đen, nhãn hiệu RORCE-FR-800, Công an phường Chính Gián thu giữ tại nhà chị Nguyễn Thị Thanh N. Cơ quan Cảnh sát Điều tra Công an quận Thanh Khê đã trả xe đạp lại cho chủ sở hữu là anh Nguyễn Thanh V; 01 (một) đĩa CD ghi lại hành vi trộm cắp xe đạp màu đen, nhãn hiệu Force FR-800 của T (được lưu theo hồ sơ vụ án).
Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh V đã nhận lại xe đạp bị trộm cắp, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho T.
Tại Cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 29 tháng 4 năm 2022 của Viện Kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố bị cáo Phan Mậu T về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố nhà nước giữ nguyên quan điểm đã truy tố, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ vào tính chất vụ án, nhân T, mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phan Mậu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Phan Mậu T mức án từ 06 – 12 tháng tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án 01 (một) đĩa CD ghi lại hành vi trộm cắp xe đạp màu đen, nhãn hiệu Force FR-800 của T.
- Về trách nhiệm dân sự: Anh Nguyễn Thanh V đã nhận lại xe đạp bị trộm cắp, không có yêu cầu gì thêm và xin giảm nhẹ hình phạt cho T nên không đề cập giải quyết.
Tại phiên tòa, bị cáo Phan Mậu T đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như bản cáo trạng đã truy tố là đúng. Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm về với gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN :
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, Kiểm sát viên đều hợp pháp.
[2] Tại phiên toà, bị cáo Phan Mậu T đã khai nhận hành vi phạm tội của mình. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các chứng cứ, tài liệu mà cơ quan điều tra đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có đủ cơ sở để kết luận:
Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 26/10/2021 tại vỉa hè trước tiệm bánh mì Xíu ở số 143 Lê Độ, phường Chính Gián,quận Thank Khê, thành phố Đà Nẵng, Phan Mậu T đã có hành vi trộm cắp của anh Nguyễn Thanh V một chiếc xe đạp Force FR-800 có giá trị 3.200.000 đồng (Ba triệu hai trăm nghìn đồng). Do đó hành vi của Phan Mậu T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Thanh Khê, thành phố Đà Nẵng đã truy tố là có căn cứ, đúng pháp luật.
[3] Xét tính chất vụ án và hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo thì thấy:
Bị cáo có đủ sức khoẻ và nhận thức được việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật. Tuy nhiên, vì lòng tham và để thỏa mãn nhu cầu sử dụng cá nhân nên đã bất chấp hậu quả để xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật tôn trọng và bảo vệ.
Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, làm mất trật tự an ninh tại địa phương, bản thân bị cáo đã 03 lần bị xét xử về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng không lấy đó làm bài học tu dưỡng bản thân, làm ăn lương thiện mà tiếp tục phạm tội. Vì vậy, phải xử phạt bị cáo mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, cần tiếp tục cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để bị cáo có điều kiện cải tạo, tu dưỡng trở thành công dân có ích cho xã hội, đồng thời để răn đe và phòng ngừa chung.
[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:
Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo. Bên cạnh đó, người bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy, đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự cần được áp dụng để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
[5] Về hình phạt bổ sung: Xét thấy, bị cáo không có việc làm và thu nhập ổn định, do đó Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
[6] Về xử lý vật chứng: Hội đồng xét xử áp dụng các quy định điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ 01 (một) đĩa CD ghi lại hành vi của Phan Mậu T trộm cắp xe đạp màu đen, nhãn hiệu Force FR-800.
[7] Đối với chị Nguyễn Thị Thanh N có hành vi cất giúp xe đạp cho T do T bỏ lại nhưng không biết xe đạp do T trộm cắp mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra công an quận Thanh Khê không đề cập xử lý là có căn cứ.
[8] Án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ Khoản 1 Điều 173; điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Tuyên bố bị cáo Phan Mậu T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Phan Mậu T 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 17/02/2022.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tiếp tục lưu giữ tại hồ sơ vụ án
01 (một) đĩa CD ghi lại hành vi của Phan Mậu T trộm cắp xe đạp màu đen, nhãn hiệu Force FR-800.
3. Về án phí: Căn cứ Điều 23 của Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về việc “Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án” của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo Phan Mậu T phải chịu 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
4. Án xử sơ thẩm công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Riêng bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được trích sao bản án, hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| - Bị cáo; người TGTT; - Viện kiểm sát nhân dân Q. Thanh Khê; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng; - Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Thanh Khê; - Cơ quan thi hành án hình sự CA Đà Nẵng; - Nhà tạm giữ Công quận Thanh Khê, TP. Đà Nẵng; - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; - Lưu hồ sơ vụ án. | Nơi nhận: TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM - Bị cáo; người TGTT; THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA - Viện kiểm sát nhân dân Q. Thanh Khê; - Viện kiểm sát nhân dân TP. Đà Nẵng; - Cơ quan điều tra Công an quận Thanh Khê; - Cơ quan thi hành án hình sự CA Đà Nẵng; - Nhà tạm giữ Công quận Thanh Khê, TP. Đà (Đã ký) Nẵng; - Tòa án nhân dân TP. Đà Nẵng; - Sở tư pháp TP. Đà Nẵng; Trần Thị Kim Ánh - Lưu hồ sơ vụ án. Trần Thị Kim Ánh |