vanban.org

Bản án 55/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận Đơn khởi kiện của anh Trần Đình N. Anh Trần Đình N và chị Trương Thị H ly hôn.

Về con chung: Giao cháu Trần Trương Hồng Ph, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011 cho chị Trương Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh Trần Đình N không phải cấp dưỡng nuôi con. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận Đơn khởi kiện của anh Trần Đình N. Anh Trần Đình N và chị Trương Thị H ly hôn.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 235 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN SƠN TỊNH
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HNGĐ-ST
Ngày 13/5/2022
V/v “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn”

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN SƠN TỊNH, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nga.

Các hội thẩm nhân dân: - Ông Nguyễn Thành Nghi

- Ông Nguyễn Công Huy.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lưu Tấn Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi.

Ngày 13 tháng 5 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2022/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 01 năm 2022 về việc“Ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 07/2022/QĐXXST- HNGĐ ngày 18 tháng 4 năm 2022, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Anh Trần Đình N, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn 2, xã N, huyện C, tỉnh Đ, có đơn xin xét xử vắng mặt.

Bị đơn: Chị Trƣơng Thị H, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Xóm 5, thôn T, xã T2, huyện S, tỉnh Q, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai nguyên đơn anh Trần Đình N trình bày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh và chị Trương Thị H trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tịnh Thọ, huyện Sơn Tịnh, tỉnh Quảng Ngãi vào ngày 03/10/2011. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc thời gian đầu, những tháng về sau thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do tính tình không hợp nhau, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên cãi vã nhau. Mặc dù hai bên gia đình cũng đã can thiệp, hòa giải động viên nhưng anh và chị H vẫn không thể cùng chung sống được nữa, do đó anh và chị H đã sống ly thân từ cuối năm 2011 đến nay, mỗi người sống một nơi, không quan tâm gì đến nhau nữa.

Nay anh thấy tình cảm vợ chồng không còn, anh không còn yêu thương chị H nên anh yêu cầu Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn chị Trương Thị H.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Trương Hồng Ph, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011, hiện nay do chị H đang nuôi dưỡng, khi ly hôn anh thỏa thuận giao cháu Ph cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng, anh không phải cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung: Không có.

Tại phiên tòa hôm nay bị đơn chị Trương Thị H vắng mặt nhưng ngày 11/02/2022 có văn bản trình bày ý kiến nội dung:

Chị và anh Trần Đình N trước khi kết hôn có tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T vào ngày 03/10/2011. Sau ngày kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến cuối năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng tính tình không hợp, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xẩy ra cãi vả. Mặc dù đã được hai bên gia đình cố gắng thuyết phục để vợ chồng sống hạnh phúc nhưng vẫn không cải thiện được nên mỗi người sống mỗi nơi, do đó vợ chồng sống ly thân từ cuối năm 2011 đến nay, nay anh Trần Đình N xin ly hôn chị thì chị đồng ý.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung là Trần Trương Hồng Ph, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011, hiện nay do chị đang nuôi dưỡng, khi ly hôn chị yêu cầu được tiếp tục nuôi cháu Ph, chị không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con.

- Về tài sản chung: Không có tài sản chung, nên không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng:

Về thẩm quyền: Anh Trần Đình N xin ly hôn chị Trương Thị H hiện đang cư trú và có hộ khẩu thường trú tại Xóm 5, thôn T, xã T2, huyện S, tỉnh Q nên Tòa án nhân dân huyện Sơn Tịnh thụ lý giải quyết là phù hợp với quy định tại Điều 35, Điều 39 của Bộ luật Tố tụng Dân sự.

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn anh Trần Đình N và bị đơn chị Trương Thị H có đơn xin giải quyết, xét xử vắng mặt, căn cứ vào khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng Dân sự, Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt nguyên đơn và bị đơn.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Anh Trần Đình N và chị Trương Thị H đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã T vào ngày 03/10/2011 là hôn nhân hợp pháp. Sau ngày kết hôn anh N và chị H sống hạnh phúc đến cuối năm 2011 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân là do vợ chồng sống không hợp tính nhau, không cùng quan điểm sống nên thường xuyên xảy ra cãi vã. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình khuyên nhủ nhưng vẫn không cải thiện được, do đó anh N và chị H sống ly thân từ cuối năm 2011, phần ai nấy sống, không còn quan tâm đến nhau.

Xét thấy: Mâu thuẫn trong đời sống hôn nhân của anh N và chị H đã thật sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được, nên Hội đồng xét xử cho anh N được ly hôn với chị H là phù hợp theo quy định tại khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Anh Trần Đình N và chị Trương Thị H có 01 con chung Trần Trương Hồng Ph, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011, hiện nay con do chị H đang nuôi dưỡng.

Xét thấy: Cháu Trần Trương Hồng Ph hiện nay đang sống với chị H và có cuộc sống ổn định, đồng thời cháu Ph có nguyện vọng được ở với chị H, chị H được địa phương xác nhận có thu nhập ổn định, đủ điều kiện nuôi con, nên Hội đồng xét xử giao cháu Trần Trương Hồng Ph cho chị H tiếp tục nuôi dưỡng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình.

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị H không yêu cầu anh N cấp dưỡng nuôi con, anh N không cấp dưỡng nuôi con, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về tài sản chung: Anh Trần Đình N và chị Trương Thị H không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung; về nợ chung không có, nên Hội Đồng xét xử không xem xét về tài sản chung và nợ chung.

Về án phí: Anh Trần Đình N phải chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 28, 35, 39, 147, khoản 1 Điều 228, 235, 266, 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56, 57, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 24, Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận Đơn khởi kiện của anh Trần Đình N. Anh Trần Đình N và chị Trương Thị H ly hôn.

2. Về con chung: Giao cháu Trần Trương Hồng Ph, sinh ngày 27 tháng 3 năm 2011 cho chị Trương Thị H tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, anh Trần Đình N không phải cấp dưỡng nuôi con.

Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc người thân thích; Cơ quan quản lý nhà nước về gia đình; Cơ quan quản lý nhà nước về trẻ em; Hội liên hiệp phụ nữ, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Cha mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Đình N phải chịu 300.000 đồng án ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí sơ thẩm anh N đã nộp là 300.000đồng theo biên lai thu tiền số AA/2016/0001230 ngày 18/01/2022 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Sơn Tịnh, anh Trần Đình N đã nộp đủ án phí.

5. Kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ