vanban.org

Bản án 55/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về hôn nhân: Chị Phan Thị Thúy L được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.

Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Khả Nh, sinh ngày 18/12/2018 cho chị Phan Thị Thúy L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện con chung đang sống với chị L. Chị Phan Thị Thúy L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Trường G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, g…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "chấp nhận yêu cầu ly hôn, nuôi con giữa chị L và anh G"
  • Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Chị Phan Thị Thúy L được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LAI VUNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 06 - 9 -2022
“Tranh chấp về hôn nhân và gia
đình - Ly hôn, nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LAI VUNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phượng;

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Phát Triển;

2. Ông Nguyễn Duy Oanh;

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Mỹ Châu - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp.

Ngày 06 tháng 9 năm 2022 tại phòng xử án của trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 86/2022/TLST-DS ngày 31 tháng 5 năm 2022, về việc “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 86/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 28 tháng 7 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 347/2022/QĐST-HNGĐ ngày 18/8/2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị Thúy L, sinh năm 1997.

Địa chỉ: Số 135/6, ấp Thành T, xã Long Th, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.

Địa chỉ tạm trú: Số 3A, đường T, khóm 1, Phường 2, thành phố S, tỉnh Đồng Tháp.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Trường G, sinh năm 1988.

Địa chỉ: Thôn Tài Lương 4, xã Hoài Thanh T, huyện Hoài Nh, tỉnh Bình Định.

Địa chỉ tạm trú: Số 135/6, ấp Thành T, xã Long Th, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp.

(Chị L có mặt, anh G vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Phan Thị Thúy L trình ày:

Về hôn nhân: Chị L và anh G quen nhau, được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Th, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 24/9/2018. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc và có 01 con chung. Đầu năm 2020, vợ chồng về nhà cha mẹ anh G ở tỉnh Bình Định sống và anh G có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh G rất ít quan tâm đến vợ con. Tháng 02/2021, chị L rời khỏi nhà anh G và trở về quê ở huyện Lai V sống cho đến nay. Chị L đã cho anh G cơ hội sửa đổi nhưng khi làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh anh G lại tiếp tục có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Anh G vẫn thường đi về từ Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Lai Vung để ở và thăm con nhưng vợ chồng không sống chung từ tháng 6/2021 cho đến nay. Chị L nhận thấy vợ chồng không thể hàn gắn tình cảm, cuộc sống chung không còn hạnh phúc vì không còn sự tin tưởng và quan tâm lẫn nhau nên chị L yêu cầu được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Khả Nh, sinh ngày 18/12/2018, hiện con chung đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được nuôi con chung và không yêu cầu anh Nguyễn Trường G cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

Tại iên ản hòa giải ngày 25/7/2022, ị đơn anh Nguyễn Trường G trình ày:

Về quan hệ hôn nhân: Anh G thống nhất với trình bày của chị L về thời gian kết hôn và chung sống. Thời gian đầu, vợ chồng sống hạnh phúc và có 01 con chung. Anh G thừa nhận trước đây có thời gian anh G xảy ra quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhưng sau đó anh không còn liên lạc và không còn quan hệ tình cảm với người phụ nữ đó nữa. Khoảng thời gian vợ chồng về Bình Định sống vợ chồng có mâu thuẫn, tình cảm lạnh nhạt do bất đồng trong lối sống. Do ở quê không có việc làm phù hợp nên anh G phải đi làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng anh cũng thường xuyên về quê tại địa chỉ số 135/6, ấp Thành T, xã Long Th, huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp để thăm vợ con, anh G nhiều lần năn nỉ chị L cho anh cơ hội cùng chăm lo cho con. Anh G vẫn còn tình cảm với vợ và thương con, mong muốn được chị L cho anh cơ hội để hàn gắn tình cảm vợ chồng nên anh G không đồng ý ly hôn với chị Phan Thị Thúy L.

Về con chung: Vợ chồng có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Khả Nh, sinh ngày 18/12/2018, hiện con chung đang sống với chị L. Anh G không đồng ý ly hôn, nếu buộc phải ly hôn thì anh Nguyễn Trường G đồng ý giao con chung cho chị L nuôi, anh sẽ cấp dưỡng nuôi con theo khả năng của mình.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng:

Chị Phan Thị Thúy L yêu cầu được ly hôn và tranh chấp nuôi con với anh Nguyễn Trường G, do đó xác định quan hệ pháp luật tranh chấp trong vụ án là “Tranh chấp về hôn nhân và gia đình – Ly hôn, nuôi con” theo quy định tại khoản 1 điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Bị đơn anh Nguyễn Trường G có địa chỉ cư trú tại huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Tòa án đã triệu tập hợp lệ đối với bị đơn là anh Nguyễn Trường G để tham gia phiên tòa theo giấy triệu tập của Tòa án đến lần thứ hai nhưng anh G vẫn cố tình vắng mặt, không có lý do chính đáng. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh Nguyễn Trường G theo quy định tại Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Xét về quan hệ hôn nhân: Sau thời gian tìm hiểu, chị L và anh G được cha mẹ hai bên tổ chức đám cưới năm 2018, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Long Th, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp vào ngày 24/9/2018 theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 Luật hôn nhân và gia đình, đây là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ.

[2.2] Xét yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Thúy L, Hội đồng xét xử xét thấy:

Chị L và anh G trong thời gian chung sống có phát sinh nhiều mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị L trình bày là do anh G có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác dẫn đến vợ chồng thường xuyên phát sinh mâu thuẫn, từ đó vợ chồng không còn tin tưởng lẫn nhau nên cuộc sống vợ chồng không hạnh phúc, anh G rất ít quan tâm đến vợ con. Chị L đã cho anh G cơ hội sửa đổi nhưng khi làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh anh G lại tiếp tục có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Anh G vẫn thường đi về từ Thành phố Hồ Chí Minh và huyện Lai V để ở và thăm con nhưng vợ chồng không còn sống chung từ tháng 6/2021 cho đến nay, vợ chồng vẫn không thể hàn gắn tình cảm lại được.

Tại biên bản hòa giải ngày 25/7/2022, anh Nguyễn Trường G thừa nhận trước đây có thời gian anh G xảy ra quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác nhưng sau đó anh không còn liên lạc và không còn quan hệ tình cảm với người phụ nữ đó nữa. Khoảng thời gian vợ chồng về Bình Định sống, vợ chồng có mâu thuẫn, tình cảm lạnh nhạt do bất đồng trong lối sống. Do ở quê không có việc làm phù hợp nên anh G phải đi làm việc ở Thành phố Hồ Chí Minh nhưng anh cũng thường xuyên về quê tại địa chỉ số 135/6, ấp Thành T, xã Long Th, huyện Lai V, tỉnh Đồng Tháp để thăm vợ con, anh G nhiều lần năn nỉ chị L cho anh cơ hội cùng chăm lo cho con nhưng chị L vẫn không đồng ý. Tuy nhiên anh G không đưa ra được biện pháp để hàn gắn tình cảm vợ chồng và vắng mặt tại phiên tòa.

Tại phiên tòa hôm nay, chị L xác định không còn tình cảm vợ chồng với anh G và chị L đã cho anh G cơ hội hàn gắn từ năm 2021 đến nay nhưng vợ chồng vẫn thường xuyên cãi nhau, không còn tin tưởng và quan tâm lẫn nhau nên chị L cương quyết ly hôn.

Từ những nhận định trên, có đủ cơ sở xác định mâu thuẫn giữa chị L và anh G đã trầm trọng, anh G vi phạm nghĩa vụ của vợ chồng, vợ chồng không còn sự tin tưởng lẫn nhau làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên căn cứ Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị Phan Thị Thúy L.

[2.3] Xét về con chung: Chị Phan Thị Thúy L và anh Nguyễn Trường G có 01 con chung tên Nguyễn Hoàng Khả Nh, sinh ngày 18/12/2018, hiện con chung đang sống với chị L. Khi ly hôn, chị L yêu cầu được trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tại phiên hòa giải ngày 25/7/2022, anh G cũng đồng ý giao con chung cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử xét thấy: Cha, mẹ có nghĩa vụ và quyền ngang nhau, cùng nhau chăm sóc, nuôi dưỡng con chung nên giao con chung cho ai nuôi dưỡng cũng phải đảm bảo con chung được ổn định cuộc sống, nuôi dạy và phát triển trong điều kiện tốt nhất. Từ tháng 02 năm 2021 cho đến nay, cháu Khả Nh sống chung với mẹ là chị L và cháu có cuộc sống ổn định, cháu được chăm sóc phát triển tốt về mọi mặt và chị L đủ điều kiện để nuôi dưỡng cháu. Vì vậy, giao con chung cho chị L tiếp tục trực tiếp nuôi để cháu có cuộc sống ổn định và phát triển tốt nhất về tâm sinh lý, thể chất, sinh hoạt của cháu là có căn cứ, phù hợp với quy định tại Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014.

[2.4] Xét về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị Thúy L không yêu cầu anh Nguyễn Trường G cấp dưỡng nuôi con và anh G cũng không tự nguyện cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[2.4] Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Thúy L và anh Nguyễn Trường G thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn chị Phan Thị Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm trong vụ án ly hôn là có căn cứ, phù hợp với khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, Điều 227, Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; Điều 56, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về hôn nhân: Chị Phan Thị Thúy L được ly hôn với anh Nguyễn Trường G.

2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Hoàng Khả Nh, sinh ngày 18/12/2018 cho chị Phan Thị Thúy L tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, hiện con chung đang sống với chị L.

Chị Phan Thị Thúy L cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở anh Nguyễn Trường G trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Chị Phan Thị Thúy L không yêu cầu anh Nguyễn Trường G cấp dưỡng nuôi con và anh G cũng không tự nguyện cấp dưỡng nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Chị Phan Thị Thúy L và anh Nguyễn Trường G thống nhất không có nên Hội đồng xét xử không xem xét.

5. Về án phí và tạm ứng án phí:

Chị Phan Thị Thúy L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về ly hôn là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006131 ngày 30/5/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Lai Vung, tỉnh Đồng Tháp. (chị L đã nộp xong).

6. Các đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (Ngày 06/9/2022). Đối với bị đơn không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo 15 ngày, tính từ ngày bản án này được giao cho họ hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Cỡ chữ