- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "chị Bùi Thị D xin xác định anh Trương Văn D là cha của cháu Trương Văn H"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Bùi Thị D: xác định anh Trương Văn D là cha đẻ của cháu Trương Văn H, sinh ngày 21/5/2022 theo Giấy chứng sinh do Bệnh viện phụ sản An Đức – Sở y tế Thái Bình cấp số Giấy chứng sinh: 0032382 ngày 21/5/2022.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH TỈNH THÁI BÌNH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2022 V/v tranh chấp về xác định cha cho con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THÁI BÌNH, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Hoàng Thị Phụng.
2. Ông Hoàng Văn Đức.
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Long – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên toà: Bà Hoàng Hà Vĩnh Châm - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2022/TLST-HNGĐ ngày 08 tháng 8 năm 2022 về việc tranh chấp về xác định cha cho con theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 46/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 12 tháng 9 năm 2022 giữa:
- Nguyên đơn: Chị Bùi Thị D, sinh năm 1994;
Nơi cư trú: tổ x, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Anh Trƣơng Văn D, sinh năm 1993;
Nơi cư trú: tổ x, phường H, thành phố T, tỉnh Thái Bình.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Phạm V, sinh năm 1990;
Nơi ĐKHKTT: Tổ y, khu L, phường Y, thành phố U, tỉnh Quảng Ninh.
Chỗ ở hiện nay: Thôn z, xã K, huyện T, thành phố Hải Phòng.
(Chị D, anh D, anh V đều vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 28/7/2022, trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Bùi Thị D trình bày:
Chị có kết hôn với anh Phạm V, nhưng do quá trình chung sống bất đồng quan điểm nên chị và anh V đã ly thân nhau từ năm 2016 đến tháng 4/2022, chị và anh V xác định không thể tiếp tục chung sống cùng nhau với nhau được nên đã làm đơn đề nghị yêu cầu công nhận thuận tình ly hôn. Ngày 19/4/2022, Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh giải quyết cho ly hôn theo Quyết định Công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số: 45/2022/QĐCNTTLH ngày 19/4/2022: Công nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị và anh Phạm V. Trong thời gian ly thân với anh Phạm V chị có quen anh Trương Văn D, chị và anh D có quan hệ tình cảm và chị có thai. Ngày 21/5/2022 chị có sinh 01 con tại bệnh viện phụ sản An Đức theo Giấy chứng sinh số: 0032382 ngày 21/5/2022. Chị đặt tên con là Trương Văn H. Đến nay chị cầu Tòa án xác định cháu Trương Văn H là con anh Trương Văn D. Chị không yêu cầu anh D góp cấp dưỡng nuôi con.
Bị đơn anh Trương Văn D trình bày: Anh có quen biết với Chị D, trong năm 2022 Chị D có mang thai và có sinh 01 con là cháu Trương Văn H sinh ngày 21/5/2022. Đến nay Chị D có yêu cầu xác định anh là cha của cháu Trương Văn H anh không nhất trí, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Phạm V trình bày: Năm 2011 anh có kết hôn với chị Bùi Thị D nhưng do quá trình chung sống bất đồng quan điểm. Từ năm 2016 Chị D bỏ về tỉnh Thái Bình làm ăn, anh với Chị D ly thân. Năm 2022, xác định không thể tiếp tục chung sống cùng nhau được nên ngày 19/4/2022 Tòa án đã giải quyết cho anh và Chị D được ly hôn. Anh xác định từ năm 2016 đến nay, anh và Chị D không quan hệ tình dục với nhau. Đến ngày 21/5/2022 Chị D sinh con Trương Văn H, anh khẳng định đó không phải là con anh. Giữa anh với Chị D chỉ có 02 con chung là cháu Phạm Thanh T sinh ngày 16/6/2012 và Phạm Thanh N, sinh ngày 04/5/2014 ngoài ra không còn con nào khác. Đến nay Chị D có yêu cầu Tòa án xác định cha cho con Trương Văn H, anh đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
*Tòa án đã ra Quyết định trưng cầu giám định, Tại bản kết luận giám định ADN số: 06T09/22/DNA ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam, Kết luận: Trương Văn D có quan hệ huyết thống Cha- Con với Trương Văn H với xác suất 99.9999%.
* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Hội đồng xét xử, Thẩm phán, Thư ký thực hiện đúng quy định pháp luật tố tụng. Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chấp hành đúng các quy định về quyền và nghĩa vụ của mình. Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào Điều 101, Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội để chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xác định anh Trương Văn D là cha đẻ của cháu Trương Văn H, sinh ngày 21/5/2022 theo Giấy chứng sinh do Bệnh viện phụ sản An Đức – Sở y tế Thái Bình cấp số Giấy chứng sinh: 0032382 ngày 21/5/2022. Chấp nhận việc Chị D không yêu cầu anh D góp cấp dưỡng nuôi con. Chấp nhận việc Chị D tự nguyện nộp tiền chi phí giám định. Miễn án phí hôn nhân gia đình cho Chị D.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Tòa án nhận định:
Về quan hệ tranh chấp và Tòa án có thẩm quyền giải quyết: Nguyên đơn khởi kiện và có yêu cầu xác định cha cho con do đó xác định quan hệ pháp luật là “Tranh chấp về xác định cha cho con” theo quy định tại khoản 4 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có nơi cư trú tại thành phố Thái Bình nên Tòa án nhân dân thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình có thẩm quyền giải quyết vụ án theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 228, Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, tiến hành xét xử vụ án vắng mặt nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Xét yêu cầu của nguyên đơn thì thấy: Anh V khẳng định đã ly thân với Chị D từ năm 2016. Tại bản kết luận giám định ADN số: 06T09/22/DNA ngày 06 tháng 9 năm 2022 của Công ty cổ phần công nghệ Gen ứng dụng Việt Nam, Kết luận: Trương Văn D có quan hệ huyết thống Cha- Con với Trương Văn H với xác suất 99.9999%.. Do vậy cần chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn xác định anh Trương Văn D, sinh năm 1981 là cha đẻ của cháu Trương Văn H, sinh ngày 21/5/2022 theo Giấy chứng sinh do Bệnh viện phụ sản An Đức – Sở y tế Thái Bình cấp số Giấy chứng sinh: 0032382 ngày 21/5/2022. Chấp nhận việc Chị D không yêu cầu anh D góp cấp dưỡng nuôi con.
Về chi phí giám định: Chị D đã tự nộp chi phí giám định và tự nguyện chịu tiền chi phí giám định không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Tòa án không đặt ra giải quyết.
Về án phí sơ thẩm: Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho Chị D theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, 228, 235, 238, 266, 271 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ vào khoản 2 Điều 101, khoản 3 Điều 102 Luật Hôn nhân và Gia đình; Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 12 và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
1. Chấp nhận yêu cầu xác định cha cho con của chị Bùi Thị D: xác định anh Trương Văn D là cha đẻ của cháu Trương Văn H, sinh ngày 21/5/2022 theo Giấy chứng sinh do Bệnh viện phụ sản An Đức – Sở y tế Thái Bình cấp số Giấy chứng sinh: 0032382 ngày 21/5/2022. Chấp nhận việc Chị D không yêu cầu anh Trương Văn D góp cấp dưỡng nuôi con.
2. Về án phí: Miễn án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm cho chị Bùi Thị D.
3. Về quyền kháng cáo: Chị Bùi Thị D, anh Trương Văn D, anh Phạm V được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Uỷ ban nhân dân phường Hoàng Diệu, thành phố Thái Bình, tỉnh Thái Bình; - Chi cục THADS thành phố Thái Bình; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Hƣơng |