vanban.org

Bản án 55/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với anh Lê Minh L. Buộc anh Lê Minh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền gốc là 22.

Kể từ ngày 30/7/2022 anh Lê Minh L còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S. Về án phí: Anh Lê Minh L phải chịu án phí dân sự sơ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với anh Lê Minh L. Buộc anh Lê Minh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền gốc là 22.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆNPHƢỚC LONG
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2022/DS-ST
Ngày: 29 – 7 – 2022
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHƢỚC LONG – TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Yến Ly

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Dƣơng Thị Tú Phƣơng

2. Ông Trần Văn Phƣớc

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Lý Thị Nhiên – Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 7 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phước Long xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 33/2022/TLST-DS ngày 08 tháng 02 năm 2022 về việc tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 142/2022/QĐXXST-DS ngày 08 tháng 6 năm 2022 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S

Địa chỉ: 266 – 268 A, phường B, quận C, thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Đức Thạch D. Chức vụ: Tổng giám đốc.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Chí T. Chức vụ: Giám đốc Ngân hàng TMCP S, chi nhánh tỉnh Bạc Liêu.

Địa chỉ: số 139/45 Hẻm A, đường B, khóm C, phường D, thành phố L, tỉnh An Giang.

Ông Nguyễn Chí T ủy quyền lại cho: Anh Huỳnh Tứ P, sinh năm 1988. Chức vụ: Phó Phòng giao dịch Phước Long Bạc Liêu. Địa chỉ: 34A, khóm A, phường B, thành phố C, tỉnh Bạc Liêu. Nơi làm việc: Số 88, ấp L, thị trấn P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

2. Bị đơn: Anh Lê Minh L, sinh năm 1989; Địa chỉ: ấp A, xã P, huyện P, tỉnh Bạc Liêu. (Vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện và lời khai có trong hồ sơ vụ án, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn anh Huỳnh Tứ P trình bày:

Vào ngày 27/7/2020, anh Lê Minh L có ký Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số xxxxxxxxxxxx với Ngân hàng TMCP S, phòng giao dịch Phước Long Bạc Liêu để vay số tiền 30.000.000đ với mục đích tiêu dùng, lãi suất trong hạn là 21,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay là 24 tháng. Thỏa thuận số tiền trả mỗi kỳ là 1.790.000 đồng, kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 21/9/2020, các kỳ trả nợ tiếp vào ngày 20 hàng tháng. Cùng ngày 27/7/2020, Ngân hàng TMCP S đã giải ngân cho anh L bằng hình thức chuyển khoản vào tài khoản của anh L. Từ ngày giải ngân đến nay, anh L đã thanh toán cho Ngân hàng số tiền vốn và lãi 10.800.000 đồng (trong đó vốn 7.500.000 đồng và lãi 3.300.000 đồng). Do anh L vi phạm nghĩa vụ trả nợ nên ngày 21/3/2021 Ngân hàng đã chuyển toàn bộ số tiền còn nợ sang nợ quá hạn. Mặc dù Ngân hàng thường xuyên đôn đốc và tạo điều kiện để anh L trả nợ, tuy nhiên anh L vẫn chưa thanh toán khoản nợ vay quá hạn cho Ngân hàng, vi phạm các điều khoản tại Hợp đồng cho vay đã ký.

Nay Ngân hàng TMCP S yêu cầu Tòa án giải quyết buộc anh Lê Minh L phải trả ngay cho Ngân hàng số tiền còn nợ tính đến ngày 29/7/2022 là 42.126.410 đồng (trong đó nợ gốc là 22.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.720.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 9.906.410 đồng). Đồng thời kể từ ngày 30/7/2022, anh L phải chịu lãi suất quá hạn theo thỏa thuận của hợp đồng tín dụng đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.

* Bị đơn anh Lê Minh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vắng mặt nên Tòa án không lấy được lời khai.

* Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phước Long phát biểu ý kiến:

- Về thủ tục tố tụng: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán và Hội đồng xét xử đúng theo quy định pháp luật tố tụng dân sự; Đối với nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng, riêng bị đơn chưa chấp hành quy định tại khoản 15, 16 Điều 70 Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng thương mại cổ phần S. Buộc anh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền tính đến ngày 29/7/2022 là 42.126.410 đồng (trong đó nợ gốc là 22.500.000 đồng, nợ lãi trong hạn là 9.720.000 đồng, nợ lãi quá hạn là 9.906.410 đồng) và lãi phát sinh từ ngày 30/7/2022 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại hợp đồng.

Về án phí: Anh L phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thẩm quyền và thủ tục tố tụng: Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu anh Lê Minh L trả số tiền vay còn nợ, đây là tranh chấp về hợp đồng vay tài sản, anh L đang cư trú trên địa bàn huyện Phước Long nên căn cứ vào khoản 6 Điều 26, Điều 35, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án nhân dân huyện Phước Long thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền. Anh L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt, anh P có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Hội đồng xét xử giải quyết vắng mặt anh L và anh P là đúng theo quy định tại khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung khởi kiện: Theo Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ số xxxxxxxxxxxx ngày 27/7/2020, Ngân hàng TMCP S, phòng giao dịch Phước Long Bạc Liêu đã cho anh L vay số tiền 30.000.000đ với mục đích tiêu dùng, lãi suất trong hạn là 21,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn, thời hạn vay là 24 tháng. Ngày 27/7/2020, Ngân hàng TMCP S đã giải ngân cho anh L bằng hình thức chuyển khoản, anh L đã nhận đủ tiền vay và ký tên. Anh L đã được Tòa án thông báo về việc Ngân hàng khởi kiện nhưng anh L không có ý kiến phản đối gì đối với yêu cầu của Ngân hàng. Như vậy, việc anh L có vay tiền của Ngân hàng TMCP S là thực tế có xảy ra.

Theo hợp đồng thì anh L có nghĩa vụ phải trả số tiền gốc và tiền lãi trong 24 kỳ bắt đầu từ ngày 21/9/2020 và được trả cố định vào ngày 20 hàng tháng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng anh L đã trả được số tiền gốc là 7.500.000 đồng và tiền lãi là 3.300.000 đồng. Từ ngày 21/3/2021 anh L không trả nợ là đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ của bên vay theo thỏa thuận trong Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ với Ngân hàng. Do đó, nay Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu anh L phải trả phần nợ gốc còn lại và lãi là phù hợp nên có căn cứ chấp nhận.

Anh L vay số tiền 30.000.000 đồng đã trả được số tiền gốc là 7.500.000 đồng. Do đó, buộc anh L có nghĩa vụ phải trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc còn lại là 22.500.000 đồng. Đối với lãi theo hợp đồng tín dụng thì lãi suất trong hạn là 21,6%/năm, lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Xét thấy, anh L và Ngân hàng có thỏa thuận lãi suất khi ký hợp đồng tín dụng, anh L không trả nợ theo thỏa thuận thì anh L phải chịu tiền lãi phát sinh cho đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng theo lãi suất đã thỏa thuận. Do đó, Ngân hàng TMCP S yêu cầu anh L phải trả tiền lãi trong hạn là 9.720.000 đồng, tiền lãi quá hạn 9.906.410 đồng là có căn cứ nên được chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử có căn cứ chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S, buộc anh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng TMCP S số tiền gốc là 22.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 29/7/2022 lãi trong hạn là 9.720.000 đồng, lãi quá hạn là 9.906.410 đồng, tổng cộng là 42.126.410 đồng. Đồng thời kể từ ngày 30/7/2022, anh L còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng.

Từ những nhận định trên, xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về án phí: Anh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch là 2.106.000 đồng. Ngân hàng TMCP S không phải chịu án phí.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 26, 35, 39, 147, 227, 228, 271, 273 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào các Điều 463, 466 của Bộ luật dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng 2010 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Căn cứ vào Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng thương mại cổ phần S đối với anh Lê Minh L. Buộc anh Lê Minh L có nghĩa vụ trả cho Ngân hàng thương mại cổ phần S số tiền gốc là 22.500.000 đồng và tiền lãi tính đến ngày 29/7/2022 lãi trong hạn là 9.720.000 đồng, lãi quá hạn là 9.906.410 đồng, tổng cộng là 42.126.410 đồng (Bốn mươi hai triệu một trăm hai mươi sáu nghìn bốn trăm mười đồng).

Kể từ ngày 30/7/2022 anh Lê Minh L còn phải chịu khoản tiền lãi phát sinh trên số tiền nợ gốc với mức lãi suất mà các bên thỏa thuận tại Hợp đồng cho vay kiêm giấy nhận nợ đã ký kết cho đến khi thanh toán xong nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần S.

2. Về án phí: Anh Lê Minh L phải chịu án phí dân sự sơ thẩm là 2.106.000 đồng. Ngân hàng thương mại cổ phần S không phải chịu án phí. Ngân hàng TMCP S đã dự nộp số tiền tạm ứng án phí là 846.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005007 ngày 08/02/2022 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phước Long nên được nhận lại.

3. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 của Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Đối với đương sự không có mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo được tính từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ