vanban.org

Bản án 55/2021/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Bến Tre, tỉnh Bến Tre Tuyên án 20/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lâm Duy Kh, bị cáo Nguyễn Hữu Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt bị cáo Lâm Duy Kh 03 (ba) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2021. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "KHA - PHƯỚC - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lâm Duy Kh, bị cáo Nguyễn Hữu Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ BẾN TRE
TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/HS-ST.
Ngày: 20-9-2021.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BẾN TRE, TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương.

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Bùi Đăng Khoa.

2. Bà Nguyễn Thị Ngọc Thôi.

-Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phương Yến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Lê An Hiệp - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 9 năm 2021 tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, xét xử sơ thẩm vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 50/2021/TLST-HS ngày 17 tháng 6 năm 2021, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2021/QĐXXST-HS ngày 12 tháng 7 năm 2021, đối với các bị cáo:

Lâm Duy Kh, sinh năm 1986 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: Khu phố A, phường PT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: Không; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Lâm H (chết) và bà Văn Thị T, sinh năm 1960; Vợ, con: không có;

Ngày 17/10/2005, bị Công an phường PK ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 300.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngày 27/12/2016, bị Công an phường PT, thành phố BT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 750.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngày 30/5/2018, bị Công an phường PT ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số tiền 1.000.000 đồng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Ngày 08/10/2018, bị Ủy ban nhân dân phường PT ra Quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại phường thời hạn 03 tháng về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” (chấp hành xong ngày 05/01/2019).

Tiền án: + Ngày 23/02/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) xử phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 45/2006/HSST). Ngày 02/6/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án số 88/2006/HSST). Ngày 13/7/2006, bị Tòa án nhân dân thị xã Bến Tre (nay là thành phố Bến Tre) xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Tổng hợp hình phạt buộc Kh phải chấp hành hình phạt chung của 03 bản án là 11 năm tù. (Bản án số 97/2006/HSST).

+ Ngày 17/4/2019, bị Tòa án nhân dân thành phố BT xử phạt 01 năm 06 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” (Bản án 21/2019/HSST).

Tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/3/2021cho đến nay. Có mặt.

Nguyễn Hữu Ph, sinh năm 1988 tại tỉnh Bến Tre; Nơi ĐKTT: ấp BH, xã VH, huyện BT, tỉnh Bến Tre.

Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ văn hóa: 9/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn D, sinh năm 1962 và bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1965; Vợ: Nguyễn Thị Xuân K, sinh năm 1984 con: có 01 người con sinh năm 2016;

Tiền án: Ngày 09/12/2015, bị Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre xét xử tuyên phạt 07 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” (Bản án số 66/2015/HSST).

Tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 12/4/2021 cho đến nay. Có mặt.

* Bị hại:

- Ông Bùi Văn Hản E, sinh năm 1973. Vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp TH, xã TTB, huyện MCB, tỉnh Bến Tre.

- Ông Nguyễn Kim L, sinh năm 1944. Vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp ATB, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Lưu G, sinh năm 1988; Nơi cư trú: ấp ATB, xã MTA, thành phố BT, tỉnh Bến Tre. Vắng mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Bà Nguyễn Thị Mộng Đ, sinh năm 1982. Vắng mặt.

Nơi cư trú: NQ, phường AH, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

* Người làm chứng:

Bà Văn Thị T, sinh năm 1960. Vắng mặt.

Nơi cư trú: KP3, phường PT, thành phố BT, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Trong khoảng thời gian từ ngày 12/02/2021 đến ngày 10/3/2021, trên địa bàn thành phố BT, tỉnh Bến Tre bị cáo Lâm Duy Kh một mình và cùng với bị cáo Nguyễn Hữu Ph thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của người khác. Cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ ngày 12/02/2021, bị cáo Kh điều khiển xe mô tô chở bị cáo Ph đi từ xã SĐ về xã PH, thành phố Bến Tre. Khi đi ngang qua nhà của anh Bùi Văn Hản E ở ấp A, xã SĐ, thành phố Bến Tre, bị cáo Kh phát hiện trước cửa nhà anh Hản E có để 01 máy giặt hiệu Panasonic không có người trông coi nên dừng xe lại và nói với bị cáo Ph: “Lấy máy giặt về xài”, bị cáo Ph đồng ý. Bị cáo Ph ở ngoài giữ xe và cảnh giới cho bị cáo Kh đi vào bên trong lấy máy giặt. Khi đã tháo được máy giặt, do quá nặng không thể khiêng ra ngoài nỗi nên bị cáo Kh gọi bị cáo Ph lùi xe vào bên trong rồi cả hai cùng nhau khiêng máy giặt để lên xe mô tô. Bị cáo Kh một mình điều khiển xe chở máy giặt đem về nhà ở ấp B, xã SĐ, thành phố BT còn bị cáo Ph đi bộ về nhà bị cáo Kh. Bị cáo Kh đưa cho bị cáo Ph 1.000.000 đồng để lấy máy giặt sử dụng.

Vật chứng thu giữ: 01 máy giặt hiệu Panasonic NA-F90A4GRV, loại 9kg.

Theo Kết luận định giá tài sản số 208/KL-HĐĐG ngày 20/3/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận: 01 máy giặt hiệu PANASONIC NA-F90A4GRV (9kg). Trị giá tài sản ngày 12/02/2021 là 4.050.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho anh Bùi Văn Hản E 01 máy giặt hiệu Panasonic và anh Hản E không có yêu cầu gì thêm.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 14 giờ ngày 10/3/2021, bị cáo Kh một mình điều khiển xe mô tô biển số 71FL-9335 ngang qua tịnh xá NT ở ấp ATB, xã MTA, thành phố BT thì phát hiện tịnh xá không có người nên dừng xe lại, dựng xe bên ngoài rồi đi vào cửa sau của tịnh xá, dùng kiềm mang theo sẵn cắt khoen cửa đột nhập vào bên trong, leo lên tầng 1 của tịnh xá lấy 01 cái lư đồng rồi tẩu thoát. Sau đó, bị cáo Kh mang lư đồng đến phường AH bán cho chị Nguyễn Thị Mộng Đ được 3.000.000 đồng, lấy tiền tiêu xài cá nhân. Vật chứng thu giữ:

- 01 lư bằng đồng, loại mắc tre, kích thước 30cm x 35cm x 57cm, cân nặng 14,26 kg.

- 01 xe mô tô biển số 71FL-9335;

- 01 cái kiềm bằng kim loại, màu xám, dài 37 cm, có chữ MCC TOOL MFG CO.S trên tay cầm.

Theo Biên bản giám định hiện vật số 04/GĐ-KH2021 ngày 30/3/2021 của Bảo tàng lịch sử Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: Lư tre bằng đồng thau là đồ mỹ nghệ được làm giả cổ (không phải cổ vật) được đúc ở Việt Nam vào cuối thế kỷ 20 (cách nay khoảng 30 năm). Về giá trị kinh tế: Ước tính khoảng 20.000.000 đồng.

Theo Kết luận định giá tài sản số 272/KL-HĐĐG ngày 05/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Bến Tre kết luận: 01 đỉnh thờ bằng kim loại màu vàng đồng, loại mắc tre, kích thước 30cm x 35cm x 57cm, cân nặng 14,26 kg. Trị giá tài sản ngày 10/3/2021 là 20.000.000 đồng.

Tại cáo trạng số 50/CT-VKSTPBT ngày 16 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố bị cáo Lâm Duy Kh về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2, Điều 173 Bộ luật hình sự và bị cáo Nguyễn Hữu Ph về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1, Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên giữ nguyên nội dung cáo trạng và đề nghị:

Về hình phạt chính:

- Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Lâm Duy Kh từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù về tội tội “Trộm cắp tài sản”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự: xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Ph từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: không áp dụng.

Về xử lý vật chứng: áp dụng các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho anh Bùi Văn Hản E 01 máy giặt hiệu Panasonic và đã trả cho tịnh xá NT 01 đỉnh thờ bằng kim loại màu vàng đồng, loại mắc tre.

- Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre 01 xe mô tô biển số 71FL-9335 để tiếp tục điều tra và xử lý theo thẩm quyền;

- Tịch thu tiêu hủy 01 cái kiềm bằng kim loại, màu xám, dài 37 cm, có chữ MCC TOOL MFG CO.S trên tay cầm.

Về trách nhiệm dân sự:

- Ghi nhận anh Bùi Văn Hản E đã nhận lại 01 máy giặt hiệu Panasonic và tịnh xá NT đã nhận lại 01 đỉnh thờ bằng kim loại màu vàng đồng, loại mắc tre, không có yêu cầu gì thêm.

- Ghi nhận chị Nguyễn Thị Mộng Đ không yêu cầu bị cáo Kh trả lại số tiền 3.000.000 đồng đã bỏ ra mua cái lư đồng sau đó bị thu hồi.

- Ghi nhận bị cáo Lâm Duy Kh không yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu Ph trả lại số tiền 1.000.000 đồng.

Các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố, không khiếu nại các hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng.

Lời sau cùng: bị cáo Kh rất ăn năn về hành vi đã gây ra, xin được giảm nhẹ hình phạt để sớm được trở về hòa nhập cộng đồng, đi làm kiếm tiền phụng dưỡng mẹ già vì cha vửa mất. Bị cáo Ph không nói lời sau cùng.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra công an thành phố Bến Tre, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng đã được Tòa án tống đạt hợp lệ để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không rõ lý do. Xét thấy, trong quá trình điều tra đã có lời Khi đầy đủ, rõ ràng, sự vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt.

Lời khai nhận tội của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị hại, tang vật thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác đã được thu thập trong quá trình điều tra, đủ cơ sở xác định: Xuất phát từ mục đích tư lợi bất chính, vào ngày 12/02/2021 và ngày 10/3/2021, bị cáo Kh một mình và cùng với bị cáo Ph đã thực hiện 02 vụ trộm cắp tài sản của người khác. Cụ thể:

- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 15 giờ ngày 12/02/2021, tại nhà số 340/1, ấp 1, xã Sơn Đông, thành phố Bến Tre, bị cáo Kh cùng với bị cáo Ph đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của anh Bùi Văn Hản E01 máy giặt, nhãn hiệu Panasonic, trị giá 4.050.000 đồng.

- Vụ thứ hai: Vào khoảng 14 giờ ngày 10/3/2021, bị cáo Kh đã có hành vi lén lút chiếm đoạt của tịnh xá NT ở ấp ATB, xã MT, thành phố BT 01 đỉnh thờ bằng đồng, trị giá 20.000.000 đồng.

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận biết rõ hành vi của mình bị pháp luật cấm nhưng xuất phát từ động cơ tư lợi bất chính, các bị cáo đã cố ý phối hợp, lén lút chiếm đoạt tài sản của anh Hản E nên phải bị xử lý theo chế định đồng phạm, tuy nhiên chỉ là đồng phạm giản đơn. Riêng bị cáo Kh còn có thêm hành vi một mình lén lút chiếm đoạt tài sản của tịnh xá NT. Bị cáo Kh đã bị áp dụng tình tiết tăng nặng “tái phạm” tại bản án số 21/2019/HSST ngày 17/4/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên lần phạm tội này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Bến Tre đã truy tố là đúng người, đúng tội

Các bị cáo phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp, lợi dụng chủ sở hữu thiếu cảnh giác trong việc quản lý tài sản đã thực hiện hành vi phạm tội, trực tiếp xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh trật tự, an toàn xã hội trên địa bàn. Khi bị cáo thực hiện tội phạm đã gây ra tâm lý lo sợ cho quần chúng nhân dân trong lao động, trong sinh hoạt hàng ngày.

Về nhân thân, tình tiết tặng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo có nhân thân xấu, hiện không có tiền tiền sự nhưng đều đang có tiền án.

Bị cáo Kh được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Người phạm tội thành khẩn khai báo” theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự và bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Bị cáo Ph được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “Phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn”, “Người phạm tội thành khẩn khai báo” và có ông ngoại là liệt sĩ theo quy định tại các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự; bị áp dụng tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi các bị cáo gây ra, xét thấy cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm cải tạo, giáo dục các bị cáo trở thành công dân có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung.

Lời phát biểu luận tội của Kiểm sát viên tại phiên tòa về tội danh đối với bị cáo Lâm Duy Kh là “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự và bị cáo Nguyễn Hữu Ph theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và hình phạt đề nghị áp dụng đối với các bị cáo phù hợp với quy định pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Về xử lý vật chứng:

- Việc Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trả cho anh Bùi Văn Hản E 01 máy giặt hiệu Panasonic và đã trả cho tịnh xá NT 01 đỉnh thờ bằng kim loại màu vàng đồng, loại mắc tre là phù hợp nên ghi nhận.

- Đối với 01 xe mô tô biển số 71FL-9335, do chưa xác định được chủ sở hữu nên Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre tiếp tục điều tra và xử lý theo thẩm quyền;

- Đối với 01 kiềm bằng kim loại, màu xám, dài 37 cm, có chữ MCC TOOL MFG CO.S trên tay cầm là công cụ, phương tiện bị cáo Kh dùng để thực hiện hành vi trộm cắp nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự:

- Anh Bùi Văn Hản E đã nhận lại 01 máy giặt hiệu Panasonic và tịnh xá NT đã nhận lại 01 đỉnh thờ bằng kim loại màu vàng đồng, loại mắc tre, các bị hại tự nguyện không có yêu cầu các bị cáo gì thêm nên ghi nhận.

- Chị Nguyễn Thị Mộng Đ tự nguyện không yêu cầu bị cáo Kh trả lại số tiền 3.000.000 đồng đã bỏ ra mua cái lư đồng sau đó bị thu hồi nên ghi nhận.

- Bị cáo Lâm Duy Kh tự nguyện không yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu Ph trả lại số tiền 1.000.000 đồng nên ghi nhận.

Về hình phạt bổ sung: Do các bị cáo không có tài sản và không có nghề nghiệp nên không áp dụng hình phạt bổ sung.

Đối với Nguyễn Thị Mộng Đ khi mua đỉnh thờ bằng lư đồng do bị cáo Kh bán, vì không biết tài sản do bị cáo phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự.

Về án phí: các bị cáo phải nộp theo quy định tại Điều 23 và Điều 26 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lâm Duy Kh, bị cáo Nguyễn Hữu Ph phạm tội “Trộm cắp tài sản”

1. Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Lâm Duy Kh 03 (ba) năm tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 11/3/2021.

2. Áp dụng khoản 1 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 17, Điều 38, Điều 58 Bộ luật Hình sự:

Xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Ph 09 (chín) tháng tù.

Thời hạn tù tính từ ngày 12/4/2021.

3. Về xử lý vật chứng, áp dụng các Điều 47, 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

- Ghi nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre đã trao trả cho anh Bùi Văn Hản E 01 (một) máy giặt hiệu Panasonic và đã trả cho tịnh xá NT 01 (một) đỉnh thờ bằng kim loại màu vàng đồng, loại mắc tre.

- Giao Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Bến Tre 01 (một) xe mô tô biển kiểm soát 71FL-9335 tiếp tục điều tra và xử lý theo thẩm quyền;

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cái kiềm bằng kim loại, màu xám, dài 37 cm, có chữ MCC TOOL MFG CO.S trên tay cầm.

(Theo biên bản giao, nhận vật chứng ngày 08/7/2021, hiện Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre quản lý).

4. Về trách nhiệm dân sự, áp dụng các Điều 357, 468, 584, 585, 586, 587 và 589 Bộ luật Dân sự năm 2015.

- Ghi nhận anh Bùi Văn Hản E đã nhận lại 01 (một) máy giặt hiệu Panasonic, tịnh xá NT đã nhận lại 01 (một) đỉnh thờ bằng kim loại màu vàng đồng, loại mắc tre và không có yêu cầu gì thêm.

- Ghi nhận chị Nguyễn Thị Mộng Đ không yêu cầu bị cáo Lâm Duy Kh trả lại số tiền 3.000.000 (Ba triệu) đồng đã bỏ ra mua cái lư đồng sau đó bị thu hồi.

- Ghi nhận bị cáo Lâm Duy Kh không yêu cầu bị cáo Nguyễn Hữu Ph trả lại số tiền 1.000.000 (một triệu) đồng.

5. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điều 23 Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án:

Buộc bị cáo Lâm Duy Kh, bị cáo Nguyễn Hữu Ph mỗi bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Các bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ