vanban.org

Bản án 55/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 29/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Trường A phạm tội Trộm cắp tài sản.

Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Trường A 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 9 năm 2021. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vy Trường A phải bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm phạm cho bị hại chị Hoàng Thị L số tiền là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vy Trường A - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Trường A phạm tội Trộm cắp tài sản.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC BÌNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/HS-ST
Ngày 29-11-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC BÌNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nông Thị Huyền Trang

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Lý Minh Chiêm

Bà Chu Mai Hương.

- Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Hạnh – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Bà Hứa Thuỳ Nga - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/TLST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 56/2021/QĐXXST-HS ngày 18 tháng 11 năm 2021, đối với bị cáo:

Vy Trường A, sinh ngày 26 tháng 10 năm 1988, tại huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Khu X, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vy Hải T, sinh năm 1958 và bà Tô Thị B (đã chết); vợ: Lường Thị L, sinh năm 1987; con: 02 con; tiền án: Có 01 (một) tiền án về tội Trộm cắp tài sản tại Bản án số 89/2015/HSST ngày 26-10-2015 của Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn, chưa được xoá án tích; tiền sự: Không; nhân thân: chưa bị xử lý vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật; bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 07-9-2021 cho đến nay tại nhà tạm giữ Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Bị hại: Chị Hoàng Thị L, sinh năm 1975; địa chỉ: Thôn S, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Ông Vy Hải T, sinh năm 1958; đia chỉ: Khu X, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 21-8-2021, Vy Trường A hỏi mượn xe môtô nhãn hiệu Honda Wave BKS 12L1-147.02 của bố là ông Vy Hải T với mục đích đến xã Đ, huyện L, tỉnh Lạng Sơn để ăn cưới. Sau đó, Vy Trường A một mình đi xe mô tô di chuyển theo hướng thị trấn N - xã Đ. Khi đi đến địa phận thôn S, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn thì Vy Trường A thấy tại quán bán thịt lợn, chủ quán là chị Hoàng Thị L đang ngủ say, trên bàn gỗ có 01 (một) chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A21, màu đen, đã qua sử dụng. Bị cáo Vy Trường A quan sát xung quanh thấy không có ai, nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Bị cáo Vy Trường A đỗ xe mô tô cách bàn gỗ 4,8 m, rồi đi bộ vào quán, dùng tay phải lấy trộm chiếc điện thoại di động nói trên và đút vào túi quần bên trái đang mặc của mình. Sau đó, bị cáo Vy Trường A về nhà cất xe mô tô, bắt xe ôtô (không rõ biển kiểm soát) ra ngã tư M, thành phố L bán điện thoại trộm cắp được cho một người đàn ông đi đường (không rõ tên tuổi, địa chỉ) với giá 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng). Bị cáo Vy Trường A đã tiêu sài cá nhân hết số tiền này. Ngày 06-9-2021, chị Hoàng Thị L làm đơn trình báo gửi đến công an thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn. Đến ngày 07-9-2021, bị cáo Vy Trường A bị Công an huyện L, tỉnh Lạng Sơn bắt tạm giam về hành vi trộm cắp tài sản.

Tại bản Kết luận định giá tài sản số: 27/KL-HĐĐGTS ngày 07-9-2021 của Hội đồng định giá tài sản tố tụng hình sự huyện L kết luận: 01 (một) điện thoại SAMSUNG A21 (điện thoại cũ, màu đen, đã qua sử dụng) trị giá 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Tại Cơ quan điều tra, bị cáo Vy Trường A đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu ở trên.

Bản cáo trạng số: 45/CT-VKSLB, ngày 12 tháng 11 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Vy Trường A về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo Vy Trường A thừa nhận hành vi phạm tội trộm cắp tài sản của bản thân như cáo trạng đã truy tố. Bị hại chị Hoàng Thị L yêu cầu bị cáo Vy Trường A bồi thường tiền điện thoại và sim với tổng số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng). Bị cáo Vy Trường A đồng ý bồi thường thiệt hại cho bị hại chị Hoàng Thị L số tiền là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Trong lời khai tại Cơ quan điều tra, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông Vy Hải T trình bày ông cho bị cáo Vy Trường A mượn xe mô tô đi ăn cưới và không biết việc bị cáo sử dụng xe mô tô để phạm tội. Ông Vy Hải T đã nhận lại xe mô tô và không có yêu cầu gì.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: Tuyên bố bị cáo Vy Trường A phạm tội Trộm cắp tài sản. Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 52, Điều 47 của Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Vy Trường A từ 15 tháng đến 18 tháng tù. Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo. Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vy Trường A phải bồi thường thiệt hại về điện thoại và sim với tổng số tiền là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) cho bị hại chị Hoàng Thị L. Về vật chứng: Trong quá trình điều tra, ngày 26/10/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện Lộc Bình đã quyết định xử lý vật chứng, trả lại xe môtô nhãn hiệu Honda Wave BKS 12L1-147.02 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Vy Hải T là đúng; đề nghị truy thu số tiền 500.000 đồng đối với bị cáo Vy Trường A là tiền thu lợi bất chính do phạm tội mà có. Về án phí: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, bị hại không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát. Lời nói sau cùng, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Tại phiên tòa vắng mặt người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án nhưng đã có lời khai tại cơ quan điều tra và có đơn xin xét xử vắng mặt việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến quá trình xét xử vụ án, Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 để tiếp tục xét xử vụ án.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự về thẩm quyền, trình tự, thủ tục. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa những người tham gia tố tụng không khiếu nại quyết định, hành vi của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện là hợp pháp.

Lời khai của bị cáo tại phiên tòa hôm nay phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường và các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Có đủ cơ sở để kết luận: Hồi 12 giờ 00 phút ngày 21-8-2021 tại quán bán thịt lợn thuộc thôn S, thị trấn N, huyện L, tỉnh Lạng Sơn, bị cáo Vy Trường A đã có hành vi trộm cắp 01 điện thoại di động nhãn hiệu SAMSUNG A21 màu đen, đã qua sử dụng trị giá 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) của chị Hoàng Thị L. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đủ độ tuổi theo quy định của pháp luật Hình sự. Bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở, mất cảnh giác của chủ sở hữu để lén lút chiếm đoạt tài sản. Hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo là hành vi nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ. Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện thể hiện sự coi thường pháp luật, ảnh hưởng đến tình hình an ninh trật tự trên địa bàn huyện L.

Về tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo có bà cụ nội là Vi Thị S được Nhà nước tặng thưởng 01 Huân chương Độc lập hạng Ba; ông nội là Vi Văn C và bà nội là Lý Thị B được Nhà nước tặng thưởng Huy chương Kháng chiến hạng Nhì vì đã có thành tích trong thời kỳ kháng chiến. Do đó, bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

Về nhân thân: Trước khi phạm tội bị cáo Vy Trường A đã bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh Lạng Sơn xử phạt về hành vi Trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích nhưng bị cáo vẫn tiếp tục phạm tội, thể hiện là người thiếu tu dưỡng bản thân, coi thường pháp luật, có nhân thân không tốt.

Về hình phạt chính: Đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, hậu quả của tội phạm, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử thấy rằng hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, tuy hậu quả xảy ra là ít nghiêm trọng nhưng vẫn cần có hình phạt nghiêm khắc nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung. Mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Bình đề nghị là quá nặng so với tính chất mức độ của hành vi và hậu quả của tội phạm nên Hội đồng xét xử giảm nhẹ phần nào hình phạt, cho bị cáo hưởng sự khoan hồng của pháp luật, yên tâm cải tạo, sớm trở thành công dân tốt, sống có ích cho gia đình và xã hội.

Về hình phạt bổ sung: Tại Biên bản xác minh ngày 10-9-2021 thể hiện bị cáo không có việc làm ổn định, không có tài sản riêng, sống phụ thuộc vào gia đình nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Tại phiên tòa, bị cáo Vy Trường A đồng ý bồi thường cho bị hại chị Hoàng Thị L số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng) như yêu cầu của chị Hoàng Thị L. Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận này và buộc bị cáo Vy Trường A có trách nhiệm bồi thường cho chị Hoàng Thị L số tiền 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Đối với người đàn ông đã mua chiếc điện thoại di động do không rõ tên tuổi, địa chỉ nên Cơ quan điều tra không đặt vấn đề xử lý là có căn cứ.

Về xử lý vật chứng: Ngày 26-10-2021, Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Bình, tỉnh Lạng Sơn đã trả lại 01 (một) xe môtô nhãn hiệu Honda Wave BKS 12 L1-147.02 cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Vy Hải T là có căn cứ, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Số tiền bị cáo bán điện thoại là 500.000 đồng và đã tiêu sài cá nhân hết là số tiền do phạm tội mà có nên phải truy thu để nộp ngân sách nhà nước.

Bị cáo bị kết án phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch theo quy định tại khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26, Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo Bản án sơ thẩm theo theo Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 1 Điều 47, khoản 1 Điều 48, Điều 38, Điều 50 của Bộ luật Hình sự năm 2015. Căn cứ các Điều 584, 585, 586, 589 Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ khoản 2 Điều 106; khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136, Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ điểm a, c khoản 1 Điều 23, Điều 26 và Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội khoá 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tội danh: Tuyên bố bị cáo Vy Trường A phạm tội Trộm cắp tài sản.

2. Hình phạt: Xử phạt bị cáo Vy Trường A 12 (mười hai) tháng tù, thời gian chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 07 tháng 9 năm 2021.

3. Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Vy Trường A phải bồi thường thiệt hại về tài sản bị xâm phạm cho bị hại chị Hoàng Thị L số tiền là 2.700.000 đồng (hai triệu bảy trăm nghìn đồng).

Khi bản án có hiệu lực pháp luật, bên được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành, nếu bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

4. Biện pháp tư pháp: Truy thu của bị cáo Vy Trường A số tiền 500.000 đồng (năm trăm nghìn đồng) do phạm tội mà có để nộp ngân sách nhà nước.

5. Án phí: Bị cáo Vy Trường A phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch để nộp ngân sách nhà nước.

6. Quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ