- Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L và Đặng Toại Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO TỈNH TIỀN GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2021/HS-ST Ngày 29-9-2021 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ GẠO, TỈNH TIỀN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Thanh Phƣơng
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Hoa Kiều
Ông Nguyễn Quốc Thuần
- Thư ký phiên tòa: Ông Đỗ Thanh Phong- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang tham gia
phiên tòa: Ông Ngô Thành Khánh Duy - Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 9 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2021/TLST-HS ngày 14 tháng 5 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 49/2021/QĐXXST-HS ngày 25 tháng 6 năm 2021 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Minh L, sinh ngày 08-5-1999 tại Tiền Giang, số chứng minh nhân dân 312421956, nơi cấp: Công an Tiền Giang;
Nơi cư trú: ấp Phú T xã Phú Nh, huyện Cai L, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Gsinh năm 1977 và bà Nguyễn Thị N sinh năm 1976; bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án 01 lần, Bản án số 02/2020/HS-ST ngày 21-02-2020 của Tòa án nhân dân thị xã Cai L, tỉnh Tiền Giang xử phạt Nguyễn Minh L 01 năm 03 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 17-01-2021, tạm giam ngày 26-01-2021 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2. Đặng Toại Ng, sinh ngày 08-12-1986 tại Tiền Giang, số chứng minh nhân dân 311819038, nơi cấp: Công an Tiền Giang;
Nơi cư trú: ấp Tân L, xã Long Bình Đ, huyện Ch, tỉnh Tiền Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn Ch (chết) và bà Trần Thị B (chết); vợ Hồ Thị Diễm Tr sinh năm 1994, con Đặng Hồ Phi L sinh năm 2011; tiền sự: Không; tiền án: 01 lần, Bản án số 23/2020/HSST ngày 22-5-2020 của Tòa án nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang xử phạt Đặng Toại Ng 01 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Bị cáo bị bắt tạm giữ ngày 29-01-2021, tạm giam từ ngày 04-02-2021 cho đến nay, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
Dƣơng Thị Trúc Gi, sinh năm 1973; (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Điền L, xã Long Bình Đ, huyện Ch, tỉnh Tiền Giang.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Lƣu Nguyễn Minh H, sinh năm 1985; (vắng mặt)
Nơi cư trú: số 8A/10 Nguyễn An N, Phường 3, TP M Th, tỉnh Tiền Giang.
2. Nguyễn Thị M, sinh năm 1997; (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp 1, xã Phú C, huyện Cai L, tỉnh Tiền Giang.
3. Đoàn Văn H, sinh năm 1978; (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp 1, xã An H, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
- Người làm chứng:
1. Nguyễn Văn Tòng E, sinh năm 1994; ( vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Phú B, xã Phú Nh, huyện Cai L, tỉnh Tiền Giang.
2. Phạm Hồng D, sinh năm 1993; (vắng mặt)
Nơi cư trú: ấp Quý Th, xã Nhị Q, huyện C, tỉnh Tiền Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Ngày 12-01-2021 bị cáo L điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Sirus biển số 63B1-119.90 đến nhà bị cáo Ng chơi, L rủ Ng tìm xe mô tô trộm, Ng đồng ý. Sáng ngày 13-01-2021 Ng điều khiển xe biển số 63B1-119.90 chở L đi trên Quốc lộ 50 đến nhà Lưu Nguyễn Minh H (bạn L, tên thường gọi là Đ) ngụ 8A/10 Nguyễn An N, Phường 3, Tp M Th. Trên đường quay về đến khu vực gần trường mẫu giáo Long Bình Đ thuộc ấp Điền L, xã Long Bình Đ thì L phát hiện 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirus màu đen trắng biển số 63B4-182.59 của chị Nguyễn Thị Trúc Gi đang dựng cặp lề lộ Quốc lộ 50 bên hông tiệm tạp hóa trên xe còn gắn chìa khóa nên kêu Ng quay xe lại, Ng đứng đứng cách xe mô tô khoảng 02 m cảnh giới, L trực tiếp đi vào lấy xe mô tô biển số 63B4-182.59 và điều khiển chạy trước, Ng chạy theo sau quay lại nhà của Lưu Nguyễn Minh H. L tháo biển số xe 63B4-182.59 thay bằng biển số 59F1-131.04 lấy được tại nhà H. Sau đó L điều khiển xe trộm được chạy về phòng trọ thuộc Phường 2, thị xã C, tỉnh Tiền Giang nhờ Nguyễn Văn Tòng E đi cầm xe. Em đem đến cầm cho Phạm Hồng D trú tại ấp Quý Th, xã Nhị Q, thị xã C được 5.000.000 đồng và đưa cho L cất giữ và tiêu xài cá nhân hết.
Theo bản kết luận định giá tài sản số 09/BKLĐGTS ngày 25-01-2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự trên địa bàn huyện Chợ Gạo xác định: 01 xe mô tô, nhãn hiệu Yamaha, loại xe Sirius, màu sơn đen trắng, biển số 63B4-182.59 trị giá 9.750.000 đồng.
Bản cáo trạng số 38/CT-VKSCG ngày 14-5-2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, tỉnh Tiền Giang truy tố hành vi của các bị cáo Nguyễn Minh L và Đặng Toại Ng đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015. Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L và Đặng Toại Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Minh L: Từ 18 tháng – 24 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Đặng Toại Ng từ 12 tháng – 18 tháng tù.
* Trách nhiệm bồi thường dân sự:
- Chị Dương Thị Trúc Gi đã nhận lại xe không có ý kiến yêu cầu gì khác. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
- Chị Nguyễn Thị M đã tự nguyện bồi thường cho anh Phạm Hồng D 5.000.000 đồng (tiền cầm xe mô tô). Chị M không yêu cầu bị cáo L bồi thường lại số tiền 5.000.000 đồng, anh D không có yêu cầu bồi thường gì khác. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
* Xử lý vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử trả xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng đen, biển số 63B1-119.90 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B1-119.90 cho chị Nguyễn Thị M.
Tịch thu tiêu hủy: Một nón bảo hiểm màu đỏ, một nón lưỡi trai màu trắng xanh, một biển số 59F1-131.04.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa các bị cáo Nguyễn Minh L, Đặng Toại Ng đã khai nhận hành vi mà các bị cáo đã thực hiện đúng như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo đã truy tố đối với các bị cáo. Lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi liên quan, người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Như vậy có cơ sở xác định vào ngày 13-01-2021 bị cáo L trực tiếp lấy 01 xe mô tô hiệu Yamaha Sirius màu đen trắng biển số 63B4-182.59 của chị Nguyễn Thị Trúc Gi đang dựng cặp lề lộ Quốc lộ 50 bên hông tiệm tạp hóa khu vực gần trường mẫu giáo Long Bình Đthuộc ấp Điền L, xã Long Bình Đ, còn Ng cảnh giới. Sau đó đem về huyện C nhờ Nguyễn Văn Tòng E ở huyện C cầm xe mô tô cho Phạm Hồng Dh được số tiền 5.000.000 đồng, bị cáo L tiêu xài cá nhân hết.
Theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 thì “ Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm”.
Như vậy hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Nguyễn Minh L, Đặng Toại Ng, đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm bất hợp pháp đến quyền sở hữu tài sản của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự an toàn xã hội tại địa phương.
Các bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật sẽ bị pháp luật trừng trị nghiêm khắc, nhưng chỉ vì muốn có tiền tiêu xài không phải bỏ công sức lao động nên các bị cáo bất chấp pháp luật cố ý thực hiện tội phạm. Do đó, cần có mức án nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo. Khi thực hiện tội phạm không có sự bàn bạc, phân công trước nên thuộc trường hợp phạm tội có tính chất đồng phạm giản đơn.
Bị cáo Nguyễn Minh L thực hiện tội phạm với vai trò chủ mưu, là người trực tiếp thực hiện tội phạm. Về nhân thân có 01 tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” nhưng bị cáo chưa ăn năn hối cải tiếp tục thực hiện trộm cắp tài sản sau khi chấp hành xong hình phạt tù, nên lần phạm tội này là tái phạm. Điều đó cho thấy ý thức xem thường pháp luật của bị cáo, do đó cần có mức án thật nghiêm khắc để cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt và phòng ngừa chung cho xã hội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa xét thấy bị cáo thành khẩn khai báo, được chị ruột tự nguyện bồi thường thiệt hại cho anh Phạm Hồng D nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo theo quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Bị cáo Đặng Toại Ng phạm tội với vai trò là người giúp sức cảnh giới cho L thực hiện trộm cắp xe mô tô. Bị cáo có 01 tiền án về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” nên lần phạm tội này là tái phạm. Do đó cần có tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo, nhằm cải tạo giáo dục bị cáo thành công dân tốt có ích cho xã hội. Xét bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; thực hiện tội phạm với vai trò giúp sức và không có hưởng lợi. Do đó cần có mức án thấp hơn bị cáo L.
Lời luận tội của Kiểm sát viên thực hành quyền công tố tại phiên tòa đề nghị kết tội các bị cáo theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã truy tố và hướng giải quyết về trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng là có cơ sở. Nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Chợ Gạo, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Đối với Lưu Nguyễn Minh H không biết bị cáo L và Ng lấy biển số xe 59F1-131.04 để làm gì nên Cơ quan điều tra không xem xét xử lý.
Đối với Nguyễn Văn Tòng E và Phạm Hồng D không biết xe mô tô là do L trộm cắp mà có nên không có cơ sở xử lý hình sự.
Về trách nhiệm dân sự:
- Chị Dương Thị Trúc Gi đã nhận lại xe không có ý kiến yêu cầu gì khác. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra, xem xét giải quyết.
- Chị Nguyễn Thị M đã tự nguyện bồi thường cho anh Phạm Hồng D 5.000.000 đồng (tiền cầm xe mô tô). Chị M không yêu cầu bị cáo L bồi thường lại số tiền 5.000.000 đồng, anh D không có yêu cầu bồi thường gì khác. Nên Hội đồng xét xử không đặt ra, xem xét giải quyết.
Xử lý vật chứng: Xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng đen, biển số 63B1-119.90 của chị Nguyễn Thị M bị cáo Nguyễn Minh L lấy đi chị M không biết, do đó cần trả lại xe mô tô nhãn hiệu Sirus màu trắng đen, biển số 63B1-119.90 và giấy chứng nhận đăn ký xe mô tô biển số 63B1-119.90 cho chị Nguyễn Thị M.
Tịch thu tiêu hủy các vật chứng không có giá trị: Một nón bảo hiểm màu đỏ, một nón lưỡi trai màu trắng xanh, một biển số 59F1-131.04.
Về án phí:
Các bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm; Theo quy định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh L và Đặng Toại Ng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
* Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh L 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày 17-01-2021.
* Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Xử phạt bị cáo Đặng Toại Ng 01 (một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29-01-2021.
+ Xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự.
Trả một xe mô tô nhãn hiệu Sirius màu trắng đen, biển số 63B1-119.90 và giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 63B1-119.90 cho chị Nguyễn Thị M.
Tịch thu tiêu hủy: Một nón bảo hiểm màu đỏ, một nón lưỡi trai màu trắng xanh, một biển số 59F1-131.04.
(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 28-9-2021)
+ Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.
Các bị cáo Nguyễn Minh L và Đặng Toại Ng mỗi người phải chịu 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.
+ Quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng Hình sự năm 2015.
Các bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm; bị hại, người liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết. Để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử lại theo trình tự phúc thẩm.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tiền Giang; - Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Gạo; - Cơ quan Điều tra- Công an huyện Chợ Gạo; - Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Gạo; - Nhà tạm giữ- Công an huyện Chợ Gạo; - Bị cáo, bị hại, NLQ; - Lưu hồ sơ, án văn. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Thanh Phƣơng |