- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Ngọc Th phạm tội trộm cắp tài sản, khoản1 Điều 173 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2021/HS-ST Ngày: 29-4-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC, TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Võ Thị Minh Hiệp
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Ngọc Huy
2. Bà Đặng Thị Mỹ Phương
- Thư ký phiên toà: Bà Trần Thị Thùy Linh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mộng Tuyền, Kiểm sát viên.
Ngày 29 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2021/TLST-HS ngày 31 tháng 3 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 54/2021/QĐXXST-HS ngày 14 tháng 4 năm 2021 đối với bị cáo:
Lê Ngọc Th, sinh ngày 25/11/2001. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Ấp 3, xã Ph, huyện G, tỉnh L; nghề nghiệp: không; trình độ học vấn: 11/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Ngọc T, sinh năm 1964 (đã chết) và bà Nguyễn Thị Đ, sinh năm 1966; tiền án: không; tiền sự: không; bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 05/12/2020 đến ngày 05/6/2021; bị cáo có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Huỳnh Thị Thanh T, sinh năm 1982, cư trú tại: Ấp 1, xã Ph, huyện G, tỉnh L, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 22 giờ 30 phút ngày 26/8/2020, Lê Ngọc Th nảy sinh ý định lấy trộm tài sản bán lấy tiền tiêu xài nên Th đi từ ngã tư Đ về xã Ph, huyện G, tỉnh L để tìm tài sản sơ hở lấy trộm. Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, khi đi đến khu vực ấp 1, xã Ph, huyện G, tỉnh L, Th thấy trước nhà chị Huỳnh Thị Thanh T còn sáng đèn, cổng nhà khóa nên Th tìm cách đột nhập vào trong tìm tài sản trộm. Th đi vòng ra phía sau mở dây kẽm nối giữa lưới rào và cột xi măng, kéo hàng rào qua một bên, rồi đi đến khu vực nhà mái lá thì thấy cửa sau cài chốt ngoài nên Th mở chốt đi vào tìm tài sản. Th phát hiện trên đầu tủ lạnh có một điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 F màu trắng đang sạc pin, Th lấy điện thoại bỏ vào túi quần rồi đem về nhà cất giấu. Qua truy xét, công an mời Th về làm việc, Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình và tự nguyện giao nộp lại điện thoại.
Tại Kết luận định giá tài sản số 81/KLĐG ngày 20/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Cần Giuộc kết luận: 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 F màu trắng, đã qua sử dụng, trị giá 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra, Công an đã tạm giữ: 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 F màu trắng do Lê Ngọc Th giao nộp.
Tại Cáo trạng số: 49/CT-VKSCG ngày 30/3/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An đã truy tố bị cáo Lê Ngọc Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo Lê Ngọc Th khai nhận hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên và thống nhất, không ý kiến hay khiếu nại gì đối với Kết luận định giá tài sản.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố hành vi của bị cáo Lê Ngọc Th đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 xử phạt bị cáo Lê Ngọc Th từ 03 (Ba) tháng đến 06 (Sáu) tháng tù.
Vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc đã trả lại cho chị Huỳnh Thị Thanh Thủy 01 điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 F màu trắng là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản bị mất và không yêu cầu gì thêm nên không xét đến.
Bị cáo Lê Ngọc Th đồng ý với lời luận tội và không tranh luận gì.
Bị cáo không nói lời nói sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Cần Giuộc, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Lời khai nhận của bị cáo Lê Ngọc Th là hoàn toàn phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Với các tình tiết của vụ án đã được chứng minh tại phiên tòa, đã có đủ cơ sở kết luận rằng: Khoảng 23 giờ ngày 26/8/2020, tại nhà của chị Huỳnh Thị Thanh T thuộc ấp 1, xã Ph, huyện G, tỉnh L, Lê Ngọc Th đã lấy trộm của chị T 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 F màu trắng, trị giá 3.800.000 đồng (Ba triệu tám trăm ngàn đồng). Như vậy, hành vi nêu trên của bị cáo Lê Ngọc Th đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Do đó, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An truy tố bị cáo với tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm quyền sở hữu tài sản của người khác đựợc pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vì tham lam mà bị cáo bất chấp pháp luật, cố ý chiếm đoạt tài sản của người khác. Do đó, hành vi của bị cáo phải xử lý nghiêm minh và cần phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung trong xã hội.
Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đã tự nguyện giao nộp tài sản để khắc phục hậu quả; bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Bị cáo Th có 03 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên áp dụng Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để quyết định một hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt tù có thời hạn quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Th.
Căn cứ vào tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo cùng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như phân tích trên, Hội đồng xét xử xét thấy loại hình phạt tù có thời hạn và mức hình phạt mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với bị cáo là có căn cứ và tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo.
Vật chứng: 01 (Một) điện thoại di động hiệu Oppo Reno2 F màu trắng, thuộc sở hữu hợp pháp của chị Huỳnh Thị Thanh T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cần Giuộc đã trao trả lại cho chị T là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại chị Huỳnh Thị Thanh T đã nhận lại tài sản bị chiếm đoạt và không yêu cầu gì thêm nên không xét đến.
Án phí: Bị cáo Lê Ngọc Th phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Lê Ngọc Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173, điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, khoản 2 Điều 51, Điều 38, Điều 50, Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lê Ngọc Th 05 (Năm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị bắt đi thi hành án.
Về án phí: Căn cứ vào các Điều 135, 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, buộc bị cáo Lê Ngọc Th phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Những người tham gia tố tụng; - VKSND huyện Cần Giuộc; - Công an huyện Cần Giuộc; - THADS huyện Cần Giuộc; - VKSND tỉnh Long An; - TAND tỉnh Long An; - Lưu. CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN | T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Võ Thị Minh Hiệp THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |