- Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Minh X - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Xử phạt bị cáo Lê Minh X 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 168 Bộ luật Hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2021/HS-PT Ngày 23 - 11 - 2021. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Thủy;
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Thanh Hải và bà Nguyễn Thị Mai Hương.
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Viết Luận - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 11 năm 2021, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 72/2021/TLPT-HS ngày 21 tháng 9 năm 2021, đối với bị cáo Lê Minh X, do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 110/2021/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam.
Bị cáo có kháng cáo:
Lê Minh X (Tên gọi khác: X S), sinh năm 1977 tại Hà Nam; nơi ĐKHKTT: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; chỗ ở: Tổ dân phố B, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 07/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn T và bà Lê Thị N; có vợ Đỗ Thị H và 02 con, lớn sinh năm 2003, nhỏ sinh năm 2016; tiền án: Ngày 19/4/2006 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 42 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; ngày 23/02/2012 bị Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 04 năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”; ngày 18/12/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam xử phạt 05 năm tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản”; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 31/10/1998 bị Công an thị xã Phủ Lý (Nay là thành phố Phủ Lý), tỉnh Hà Nam phạt hành chính 2.000.000 đồng về hành vi “Đánh bạc”; ngày 17/8/1999 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 30 tháng tù về tội “Cưỡng đoạt tài sản công dân”; ngày 14/01/2003 bị Tòa án nhân dân tỉnh Hà Nam xử phạt 36 tháng tù về tội về tội “Cưỡng đoạt tài sản”. Bị cáo bị bắt, tạm giữ từ ngày 07/4/2021 và chuyển tạm giam từ ngày 16/4/2021 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Nam; có mặt.
Những người tham gia tố tụng khác không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị:
- Bị hại: Anh Sùng A S, sinh ngày 13/9/2003; nơi cư trú: Bản M, xã C, huyện M, tỉnh Sơn La; vắng mặt.
Người đại diện của bị hại: Ông Chu Quốc Đ; chức vụ: Bí thư Đoàn phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Anh Bùi Ngọc K, sinh năm 1975; nơi cư trú: Thôn M, xã T, huyện T, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
2. Chị Đỗ Thị H, sinh năm 1978; nơi cư trú: Tổ dân phố Đ, phường T, thành phố P, tỉnh Hà Nam; vắng mặt.
- Người làm chứng: Chị Đỗ Thị T, sinh năm 1988; vắng mặt.
- Người chứng kiến: Ông Trần Văn H, sinh năm 1964; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 09 giờ 30 phút ngày 05/4/2021, Lê Minh X điều khiển xe mô tô BKS: 90B3-345... qua khu vực ngã ba Đọ Xá, phường Thanh Châu, thành phố Phủ Lý thì nhìn thấy anh Sùng A S đang đứng ở lề đường vẫy xe đi Hải Dương. X nói dối với anh S có nhà ở Hải Dương nếu đi thì X chở lấy 50.000đ tiền xăng, mục đích xem có sơ hở thì chiếm đoạt tài sản. X điều khiển xe mô tô chở anh S đi lấy 01 mũ bảo hiểm rồi tiếp tục chở anh S đi theo hướng cầu Câu Tử đến quán phở của chị Đỗ Thị T để ăn phở. Trong lúc ăn X lấy lý do điện thoại hết pin nên hỏi mượn điện thoại thì anh S đưa cho X 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 2020 màu xanh. X thấy điện thoại có giá trị nên nảy sinh ý định muốn chiếm đoạt nên giả vờ gọi điện thoại cho bạn rồi trả lại điện thoại cho anh S và bảo anh S thanh toán 50.000đ tiền ăn thay tiền cước xe. Sau đó, X chở anh S đi trên đường ĐT 9711 hướng về xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý. Khi đi đến mốc giới 2km thuộc khu xóm Mới, Đọi Tam, xã Tiên Sơn, thị xã Duy Tiên, X dừng xe và hỏi mượn điện thoại của anh S để giả vờ gọi cho bạn và bỏ điện thoại vào túi quần rồi tiếp tục chở anh S đi. Trên đường đi anh S nghi ngờ X chiếm đoạt điện thoại nên đã liên tục đòi nhưng X không trả mà tiếp tục đi. Đến khoảng 11 giờ 30 phút cùng ngày, X chở anh S đến cầu Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam thì túi quần áo của anh S để ở gác ba ga xe mô tô của X rơi xuống đường, X dừng xe và bảo anh S xuống xe quay lại nhặt túi đồ nhưng anh S không nhất trí mà tiếp tục đòi chiếc điện thoại. X dựng xe quay lại nhặt túi đồ và đi lại phía anh S đòi 200.000 đồng tiền cước xe mới trả điện thoại, anh S không đồng ý và đòi lại điện thoại thì X liền mở cốp xe mô tô lấy 01 tuốc nơ vít loại hai đầu dài 21cm bằng kim loại, chuôi bằng nhựa vàng đen chỉ về phía anh S nói gọi xong cho bạn sẽ trả. Nhưng anh S vẫn tiếp tục đòi lại điện thoại. X sợ anh S hô hoán mọi người nên tiếp tục dùng tuốc nơ vít chỉ vào mặt anh S đe dọa: “Không muốn chết thì ngồi xuống”, anh S lo sợ nên lùi lại không dám chống cự thì X điều khiển xe bỏ đi. Về đến nhà X tháo sim có số thuê bao 0376.842…. để ở tủ tivi và đem chiếc điện thoại của anh S đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Bùi Ngọc K bán được 1.300.000đ, còn chiếc ốp điện thoại X tháo ra vứt trên đường không nhớ rõ chỗ nào. Đến tối cùng ngày, X sợ Công an phát hiện nên tháo biển kiểm soát xe mô tô 90B3-345... cất đi rồi lắp biển kiểm soát xe mô tô 81S9-25... (X nhặt được ở đường khu vực Thanh Châu) vào xe. Khoảng 08 giờ ngày 06/4/2021, X điều khiển xe mô tô đã lắp BKS: 81S9-25... đến thị trấn Kiện Khê, huyện Thanh Liêm, tỉnh Hà Nam mua 02 túi nilon chứa ma túy hết 300.000đ của một người nam giới (X không biết tên tuổi, địa chỉ) rồi điều khiển xe mô tô về nhà, X lấy số ma túy vừa mua được ra sử dụng một ít, số còn lại X cất tại tủ tivi phòng khách để sử dụng.
Sau khi bị cướp tài sản, anh S đã đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý trình báo, đồng thời giao nộp 01 mũ bảo hiểm màu xanh, loại mũ thời trang lưỡi trai, trên mũ có chữ NIKE.
Ngày 06/4/2021, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý tiến hành khám xét khẩn cấp đối với chỗ ở của Lê Minh X và thu giữ vật chứng gồm: 01 chiếc biển kiểm soát xe mô tô số 90B3-345...; 01 chiếc mũ bảo hiểm loại nửa đầu, mũ thời trang có lưỡi trai phía trước, bên trái của mũ có dòng chữ ADIDAS; 01 đôi giày thể thao; 01 chiếc quần dài; 01 áo phông dài tay màu đen; 01 khẩu trang vải kaki kẻ ca rô; 01 chiếc xe mô tô nhãn hiệu Honda Wave an pha màu trắng đeo BKS 81S9-25...; 01 chiếc gương xe máy bên trái; 01 chiếc tuốc nơ vít dài 21cm (Gồm cả chuôi bằng nhựa); 01 bản sao đăng ký xe máy mang tên Đỗ Thị H, BKS 90B3-345...; 01 giấy biên nhận thế chấp là Công ty tài chính T…; Thu giữ trong ngăn tủ bên trái kệ tivi 02 túi nilon màu trắng kẹp nhựa viền màu xanh (Trong đó có 01 túi nilon chứa chất bột màu hồng và 01 túi nilon chứa chất tinh thể màu trắng) được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX01; 01 chiếc sim Vietel số thuê bao là 0376.842…, được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX02; 01 chai thủy tinh nắp nhựa màu đỏ có 02 lỗ, cắp 01 ống nhựa và 01 ống thủy tinh coóng; 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A37FW màu hồng lắp sim thuê bao Vinaphone 0916.710… được niêm phong trong phong bì ký hiệu KX03.
Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý đã thu giữ tại cửa hàng điện thoại của anh Bùi Ngọc K: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A5 (2020) màu xanh đen, được niêm phong trong phong bì ký hiệu ĐT1.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 24/2021 ngày 13/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản thành phố Phủ Lý kết luận: 01 điện thoại nhãn hiệu OPPO A5 (2020) màu xanh, số IMEL1: 860169041404… đã qua sử dụng giá còn 2.100.000 đồng; 01 ốp điện thoại nhãn hiệu OPPO A5 (2020) bằng nhựa màu vàng, đã qua sử dụng không còn giá trị sử dụng nên Hội đồng định giá không định giá.
Tại bản kết luận giám định số 60/PC09-MT ngày 12/4/2021 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Hà Nam kết luận: Mẫu tinh thể màu trắng trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,144 gam, loại Methamphetamine. Chất bột màu hồng trong phong bì ký hiệu KX01 gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,149 gam, loại: Methamphetamine.
Ngày 07/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý cho anh Sùng A S nhận dạng Lê Minh X, anh S đã nhận dạng đúng X là người đe dọa lấy chiếc điện thoại của anh S.
Ngày 08/4/2021 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Phủ Lý tiếp tục cho anh Sùng A S nhận dạng đối với chiếc tuốc nơ vít mà Lê Minh X dùng đe dọa anh S. Kết quả nhận dạng anh S đã nhận dạng đúng chiếc tuốc nơ vít mà X dùng để đe dọa chiếm đoạt tài sản của anh S.
Về trách nhiệm dân sự: Anh Sùng A S đã nhận lại chiếc điện thoại và không có yêu cầu, đề nghị gì về phần bồi thường dân sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2021/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam đã căn cứ điểm d, h khoản 2 Điều 168; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 47; Điều 50 Bộ luật Hình sự. Các điều 106, 136, 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự. Căn cứ Luật Phí và Lệ phí của Quốc hội và Nghị quyết 326/20216/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố bị cáo Lê Minh X (Tên gọi khác: X S) phạm tội “ Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo Lê Minh X 08 năm 06 tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 06 năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Lê Minh X phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07/4/2021 và chấp nhận việc bị cáo phải có trách nhiệm trả lại anh Bùi Ngọc K số tiền 1.300.000 đồng. Chấp nhận sự tự nguyện của chị Đỗ Thị H (Vợ bị cáo) trả lại anh Bùi Ngọc K số tiền 1.300.000 đồng thay cho bị cáo. Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn xử lý vật chứng, án phí và tuyên quyền kháng cáo theo quy định.
Ngày 18 tháng 8 năm 2021, bị cáo Lê Minh X kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” và không đồng ý xét xử bị cáo về tội “Cướp tài sản”. Tại phiên tòa bị cáo thay đổi nội dung kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt về cả hai tội và thừa nhận dùng tuốc nơ vít chỉ vào mặt anh S đe dọa với mục đích chiếm đoạt chiếc điện thoại của anh Sùng A S. Đồng thời, thừa nhận lời khai ban đầu tại Cơ quan điều tra bị cáo khai hoàn toàn tự nguyện, chính xác và không bị ai ép buộc, đánh đập khi tiến hành lấy lời khai.
Quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2021/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam theo hướng giảm hình phạt từ 02 đến 03 tháng tù về tội “Cướp tài sản”; về án phí hình sự phúc thẩm bị cáo không phải chịu.
Lời nói sau cùng của bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để bị cáo sớm trở về phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về nội dung đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn luật định, đơn thể hiện đầy đủ nội dung quy định tại khoản 2 Điều 332 của Bộ luật Tố tụng hình sự và hợp lệ nên được xem xét, giải quyết theo quy định của pháp luật.
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng tại cấp sơ thẩm đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đều xác định bị đánh đập gây thương tích có sự chứng kiến của chị Đỗ Thị H (Vợ bị cáo) và bị ép cung. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo xác định không bị ai ép buộc, đánh đập khi tiến hành lấy lời khai là hoàn toàn phù hợp với bản tường trình của chị H cũng như lời khai ban đầu của bị cáo. Do vậy, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và tài liệu, chứng cứ đã thu thập trong hồ sơ vụ án của cấp sơ thẩm đều hợp pháp.
Về tội danh, tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Lê Minh X đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Bản án sơ thẩm đã kết tội. Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm phù hợp với chính lời khai ban đầu của bị cáo và phù hợp với lời khai của người bị hại, những người tham gia tố tụng khác, Kết luận giám định, Kết quả định giá tài sản, vật chứng thu giữ và các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 05/4/2021, tại cầu Phú Thứ, xã Tiên Hiệp, thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam, Lê Minh X sử dụng chiếc tuốc nơ vít (Là hung khí nguy hiểm) đe dọa ngay tức khắc làm cho anh Sùng A S sợ hãi không thể chống cự được và chiếm đoạt chiếc điện thoại OPPO A5 (2020) trị giá 2.100.000 đồng; sau đó, bị cáo bán chiếc điện thoại chiếm đoạt của anh S được cho anh Bùi Ngọc K với giá 1.300.000 đồng. Sau khi khám xét tại nhà bị cáo Cơ quan điều tra đã thu giữ các vật chứng của vụ án và 0,293 gam ma túy, loại Methamphetamine. Bản thân, bị cáo đã có tiền án tái phạm nguy hiểm chưa được xóa án tích. Vì vậy, Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên bố bị cáo Lê Minh X phạm tội “Cướp tài sản” và tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định điểm d, h khoản 2 Điều 168 và điểm o khoản 2 Điều 249 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội không oan sai.
Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Thứ nhất, đối với tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng tình tiết thành khẩn khai báo để giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là đúng quy định pháp luật. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo không xuất trình được tài liệu, chứng cứ mới về tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điều 51 của Bộ luật Hình sự. Bản thân bị cáo có nhân thân rất xấu, từng bị xử phạt hành chính về hành vi “Đánh bạc” và 05 lần bị Tòa án xét xử về các tội “Cưỡng đoạt tài sản, Cướp giật tài sản”; trong đó có 03 bản án chưa được xóa án tích. Như vậy, thể hiện bị cáo không ăn năn, hối cải, không rèn luyện, tu dưỡng bản thân mà lại tiếp tục đi sâu vào con đường phạm tội. Cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo 06 năm tù trên mức khởi điểm của khung hình phạt là phù hợp pháp luật. Vì vậy, không có căn cứ để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Thứ hai, đối với tội “Cướp tài sản”, cấp sơ thẩm không áp dụng tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo với lý do: Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo không thừa nhận hành vi phạm tội mà còn đổ lỗi bị ép cung, đánh đập; tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như Cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là tình tiết giảm nhẹ mới được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, nên cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo, thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người phạm tội biết thành khẩn khai báo.
Từ phân tích trên, chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh X giảm một phần hình phạt tù như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Nam về tội “Cướp tài sản”.
Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo được chấp nhận một phần nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị cấp phúc thẩm không xem xét.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 355 và điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự; chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Minh X; sửa một phần Bản án hình sự sơ thẩm số 110/2021/HS-ST ngày 16 tháng 8 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam về hình phạt đối với tội “Cướp tài sản”.
Căn cứ điểm d, h khoản 2 Điều 168; điểm o khoản 2 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 50 của Bộ luật Hình sự. Luật Phí và Lệ phí của Quốc hội và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Xử phạt bị cáo Lê Minh X 08 (Tám) năm 03 (Ba) tháng tù về tội “Cướp tài sản” và 06 (Sáu) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Áp dụng Điều 55 của Bộ luật Hình sự, buộc bị cáo Lê Minh X phải chấp hành hình phạt chung của cả hai tội là 14 (Mười bốn) năm 03 (Ba) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 07 tháng 4 năm 2021.
Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Minh X không phải chịu.
Các Quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM
| Nơi nhận: - TAND cấp cao tại Hà Nội; - VKSND tỉnh Hà Nam; - Sở Tư pháp tỉnh Hà Nam; - Phòng HSNV Công an tỉnh Hà Nam; - Phòng KTNV&THA Tòa án tỉnh Hà Nam; - TAND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; - VKSND thành phố Phủ Lý, tỉnh Hà Nam; - Cơ quan CSĐT Công an thành phố Phủ Lý; - Chi cục THADS thành phố Phủ Lý; - Bị cáo; - Bị hại; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án. | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Nguyễn Đức Thủy |