- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ án ly hôn"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn D
- Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ TỈNH THANH HÓA | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2021/HNGĐ-ST Ngày: 09 /7/2021 V/v : Ly hôn, T/c nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DÂNANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THANH HOÁ. TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Hoàng Thị Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Lê Văn Luận ;
2. Bà Nguyễn Thị Hạnh.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hương - Thư ký TAND thành phè Thanh Hãa, tỉnh Thanh Hóa
- Đại diện Viện Kiểm Sát nhân dân thành phố Thanh Hóa tham gia phiên tòa: Bà Vũ Thị Hồng Nhung - Kiểm sát viên.
Ngày 09 tháng 7 năm 2021 tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Thanh Hoá, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 252 /2021/TLST- HNGĐ ngày 26 tháng 4 năm 2021 về tranh chấp “Ly hôn, nuôi con khi ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 78/2021/QĐXX-ST ngày 16 tháng 6 năm 2021 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đ – Sinh năm 1994 Địa chỉ: Phố L, phường Đ, thành phố T
Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D – Sinh năm 1986 ( Vắng mặt)
Địa chỉ : Phố L, phường Đ, thành phố T
Tại phiên tòa có mặt chị Đ, vắng mặt anh D.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện đề ngày 12 tháng 4 năm 2021, tại bản tự khai, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Đ trình bày: Chị và anh D kết hôn với nhau vào ngày 28/4/2011, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do tính tình vợ chồng không hợp, bất đồng quan điểm sống, dẫn đến vợ chồng thường xuyên cải nhau, mâu thuẫn của vợ chồng đã được gia đình đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng không có kết quả. Chị và anh D đã sống ly thân từ tháng 8 năm 2020 đến nay. Nay chị Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống chung không thể kéo dài. Mục đích hôn nhân không đạt được. Đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.
Về con chung: Chị và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Quyết T, sinh ngày 25/01/2012 và cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 17/9/2015. Ly hôn chị Đ xin được trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo A, còn cháu Nguyễn Quyết T giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Về công nợ chung: Chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn anh Nguyễn Văn D trong quá trình giải quyết vụ án anh D đã được Tòa án tống đạt thông báo thụ lý vụ án, giấy triệu tập đến Tòa án để làm bản tự khai, triệu tập phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên Hòa giải nhưng anh D cố tình không có mặt tại Tòa án để làm bản tự khai, không đến phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải theo triệu tập của Tòa án, do vậy Tòa án không lấy được lời khai, không tiến hành được phiên họp tiếp cận công khai chứng cứ và phiên hòa giải được.
Ngày 07/6/2021 Tòa án có tiến hành lấy lời khai của anh D tại gia đình anh. Anh D có khai về thời gian kết hôn, điều kiện kết hôn, nguyên nhân mâu thuẫn, thời gian sống ly thân như chị Đ khai là đúng anh mong muốn đoàn tụ nhưng nếu chị Đ Cương quyết ly hôn thì anh cũng đồng ý. Về con cái anh và chị Đ có 02 con chung là cháu Nguyễn Quyết T, sinh ngày 25/01/2012 và cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 17/9/2015. Ly hôn giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo A, còn cháu Nguyễn Quyết T giao cho anh trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản và công nợ anh không yêu cầu Tòa án giải quyết. Tuy nhiên anh lại không ký vào biên bản lấy lời khai.
Tại phiên tòa chị Đ vẫn giữ nguyên yêu cầu xin được ly hôn anh Nguyễn Ngọc D, về con cái chị Đ đề nghị giao cho chị trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo A, còn cháu Nguyễn Quyết T giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Về tài sản và công nợ chung chị Đ không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Anh D đã được Tòa án tống đạt triệu tập hợp lệ đến phiên Tòa 02 lần nhưng vắng mặt không có lý do .
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa, tỉnh Thanh Hóa tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến: Việc tuân theo pháp luật tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án.
Việc tuân theo pháp luật trong thời gian chuẩn bị xét xử:
- Thẩm phán được phân công thụ lý giải quyết vụ hôn nhân gia đình đã thực hiện đúng, đầy đủ quy định của Bộ luật tố tụng D sự về thẩm quyền thụ lý, xác định đúng tư cách của những người tham gia tố tụng, việc xác minh, thu thập chứng cứ, giao nhận chứng cứ đúng quy định, trình tự thụ lý, việc giao nhận thông báo thụ lý, các văn bản tố tụng cho VKS và cho đương sự có đúng quy định. Đảm bảo về mặt thời hạn chuẩn bị xét xử.
Tại phiên tòa Hội đồng xét xử đã tuân theo đúng các quy định của BLTTDS về việc xét xử sơ thẩm vụ án;
Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng D sự trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:
Người tham gia tố tụng là nguyên đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ quy định tại điều 70, 71 Bộ luật tố tụng D sự.
Người tham gia tố tụng là bị đơn không đến Tòa án làm bản tự khai, không tham dự phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và phiên hòa giải; không tham gia phiên tòa, không thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình theo quy định tại Điều 70, 72, Điều 234 BLTTDS. Tuy nhiên bị đơn đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến phiên tòa 02 lần nhưng bị đơn không đến Tòa. Căn cứ Điều 227, Điều 228 BLTTDS Tòa án vẫn tiến hành xét xử là đúng quy định.
Về nội dung vụ án: Chị Đ và anh D kết hôn với nhau vào ngày 28/4/2011, trên cơ sở tự nguyện tìm hiểu, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T đây là hôn nhân hợp pháp.
Sau khi kết hôn, anh chị chung sống hạnh phúc đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nay không ai quan tâm đến ai, xác định mục đích hôn nhân không đạt được, anh chị đã mâu thuẫn nhiều năm, cuộc sống chung không thể kéo dài điều này đã được chị Đ, anh D và phố phường nơi anh chị cư trú xác nhận. Nay chị Đ làm đơn xin ly hôn anh D là có căn cứ nên đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận.
Về con cái: Chị Đ và anh D có 02 con chung là cháu Nguyễn Quyết T, sinh ngày 25/01/2012 và cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 17/9/2015. Ly hôn giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo A, còn cháu Nguyễn Quyết T giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy chị Đ và anh D đều lao động tự do, nên giao cho mỗi người nuôi một cháu là phù hợp. Cháu Nguyễn Thị Bảo A là con gái cháu còn bé giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng còn cháu Nguyễn Quyết T là con trai, cháu cũng tự làm được những việc sinh hoạt phục vụ cá nhân bản thân và nguyện vọng của cháu muốn ở với bố nên giao cháu cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Đ và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thanh Hóa đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật hôn nhân gia đình để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đ.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đó được xem xét tại phiên tòa và căn cứ kết qủa tranh tụng Tòa án nhân dân thành phố Thanh Hóa nhận định:
. Về tố tụng: Anh Nguyễn Văn D (bị đơn) vắng mặt. Tòa án đã triệu tập hợp lệ nhưng anh D không đến Tòa án. Do vậy Tòa án căn cứ kho¶n 2 §iÒu 227; §iÒu 228 BLTTDS để xét xử vắng mặt đối với anh D.
. Về hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đ và anh Nguyễn Văn D kết hôn với nhau trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Đ, thành phố T là hôn nhân hợp pháp.
Quá trình vợ chồng chung sống hòa thuận đến đầu năm 2020 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân dâno vợ chồng bất đồng quan điểm sống, dẫn đến tình cảm vợ chồng không còn. Hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài. Mặc dù đã được hai bên gia đình khuyên giải nhưng không có kết quả. Mâu thuẫn vợ chồng kéo dài, tình cảm vợ chồng không còn, anh chị sống ly thân từ tháng 8/2020 điều này đã được thể hiện qua lời khai của chị Đ, anh D và xác nhận của chính quyền địa phương nơi anh chị cư trú. Nay chị Đ xét thấy tình cảm vợ chồng không còn, chị xin được ly hôn anh D. Do đó Hội đồng xét xử xét thấy mâu thuẫn của chị Đ và anh D đã đến mức trầm trọng nên căn cứ vào Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn D.
. Về con chung: Chị Đ và anh D có 02 con chung là Nguyễn Quyết T, sinh ngày 25/01/2012 và cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 17/9/2015. Ly hôn giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo A, còn cháu Nguyễn Quyết T giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng. Xét thấy chị Đ và anh D đều lao động tự do, nên giao cho mỗi người nuôi một cháu là phù hợp. Cháu Nguyễn Thị Bảo A là con gái cháu còn bé giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng còn cháu Nguyễn Quyết T là con trai, cháu cũng tự làm được những việc sinh hoạt phục vụ cá nhân bản thân và nguyện vọng của cháu muốn ở với bố nên giao cháu cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp. Không bên nào phải cấp dưỡng tiền nuôi con.
Về tài sản chung và công nợ chung: Chị Đ và anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Về án phí: Chị Đ là nguyên đơn nên phải chịu 300.000đ án phí D sự sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào §iÒu 28, Điều 35 Bộ luật Tố tụng D sự, Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 2 Điều 227; Điều 228; Điều 271;Điều 273 BLTTDS. Điểm a khoản 5, Điều 27, khoản 1.1 Điều 1 phần I, mục A Nghị Quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 quy định về mức thu án phí, lệ phí Tòa án.
1. Về hôn nhân: Xử cho chị Nguyễn Thị Đ được ly hôn anh Nguyễn Văn D
2. Về con chung: Chị Đ và anh D có 02 con chung là Nguyễn Quyết T, sinh ngày 25/01/2012 và cháu Nguyễn Thị Bảo A, sinh ngày 17/9/2015. Ly hôn giao cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Thị Bảo A. Giao cho anh D trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nguyễn Quyết T, không bên nào phải cấp dưỡng nuôi con. Hai bên có quyền đi lại thăm nom con chung không ai được cản trở.
3.Về tài sản chung và công nợ chung: Anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4.Về án phí: Chị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng chị đã nộp theo biên lai số: AA/2019/0012404 ngày 20/4/2021 tại Chi cục Thi hành án D sự thành phố Thanh Hóa. Chị Đ đã nộp đủ.
Người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án D sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án D sự.
Chị Đ có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh D có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc ngày niêm yết bản án./.
| Nơi nhận: - Các đương sự; - VKSND tp Thanh Hóa; - Chi cục THADS tp Thanh Hóa; - TAND tỉnh Thanh Hóa; - VKSND tỉnh Thanh Hóa; - UBND ph Đông Hải ; - Lưu Hồ sơ. | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Hoàng Thị Nguyệt |