vanban.org

Bản án 55/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài

TAND TP. Hải Phòng Tuyên án 23/04/2021 Hôn nhân và gia đình Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Nh:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn với anh S. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nh và anh S không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn do một bên ở nước ngoài — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Nh và anh S xin ly hôn"
  • Tòa quyết gì? Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Nh:
  • Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 23-4-2021
V/v ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Bùi Thị Thúy Hà

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Huy Vĩnh

Bà Vũ Thị Minh Nguyệt

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thu Trang –Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Ngày 23 tháng 4 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hải Phòng xét xử công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 35/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 3 năm 2021 về việc ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 80/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 4 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Nh, sinh năm 1995, nơi cư trú: Thôn Trung, xã Phục Lễ, huyện TN, thành phố Hải Phòng; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt;

- Bị đơn: Anh S, sinh năm 1982, địa chỉ: 58 Sanggul-gil, Buan-myeon, Gochang-guu, Jeollabuk-do, Hàn Quốc; vắng mặt, có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các bản tự khai nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh trình bày:

Chị và anh S gặp và quen nhau rồi làm lễ đính hôn tại Hải Phòng vào ngày 20 tháng 4 năm 2019. Sau đó, anh S trở về Hàn Quốc để làm giấy tờ gửi cho chị Nh. Khi hồ sơ hoàn tất, anh S trở về Việt Nam và cùng với chị Nh đi đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TN ngày 14 tháng 6 năm 2019. Hai tháng sau, chị Nh đi làm thủ tục xin visa nhưng không thành công. Kể từ đó chị Nh và anh S mỗi người một nơi, tình cảm ngày càng phai nhạt. Nay thấy rằng tình cảm vợ chồng không còn và không có khả năng đoàn tụ nên chị Nh yêu cầu ly hôn với anh S.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nh và anh S không có con chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về tài sản chung: Chị Nh và anh S không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Trong các bản tự khai của bị đơn gửi cho Tòa án, anh S trình bày:

Anh thống nhất về quá trình kết hôn cũng như mâu thuẫn vợ chồng giữa anh và chị Nh. Nay, anh nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mâu thuẫn không thể hàn gắn nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh chị được ly hôn.

Về con chung và tài sản chung: Anh và chị Nguyễn Thị Nh không có con chung và không có tài sản chung, và không đề nghị Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi xem xét các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, xét thấy:

- Về tố tụng:

Về thẩm quyền: Đây là vụ án ly hôn. Bị đơn anh S là người Hàn Quốc và hiện đang sinh sống tại Hàn Quốc, nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh hiện đang sinh sống tại Hải Phòng, theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 37; điểm d khoản 1 Điều 469 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng.

Về sự vắng mặt của đương sự: Nguyên đơn chị Nguyễn Thị Nh và bị đơn anh S đều vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt. Căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Toà án nhân dân thành phố Hải Phòng tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự.

- Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh và anh S kết hôn trên cơ sở tự nguyện và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân huyện TN, thành phố Hải Phòng vào ngày 24 tháng 8 năm 2018. Theo quy định tại Điều 8; Điều 9 của Luật Hôn nhân và Gia đình là quan hệ hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh S phát sinh mâu thuẫn, thường xuyên xảy ra cãi vã. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng về ngôn ngữ, anh S không thể bảo lãnh cho chị sang Hàn Quốc để vợ chồng đoàn tụ. Hiện tại anh S đang ở Hàn Quốc, chị Nh ở Việt Nam, mỗi người ở một nơi, không ai còn quan tâm đến ai. Chị Nh và anh S đều thống nhất đề nghị được ly hôn. Xét thấy mâu thuẫn vợ chồng giữa chị Nguyễn Thị Nh và anh S đã đến mức trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do vậy cần áp dụng Điều 51, Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận đề nghị ly hôn của chị Nguyễn Thị Nh.

Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nh và anh S không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không cần xem xét, giải quyết.

Về tài sản chung: Anh chị không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không cần xem xét.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Nh là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Về quyền kháng cáo: Chị Nguyễn Thị Nh và anh S được quyền kháng cáo Bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 51, khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình;

Căn cứ khoản 1 Điều 28; khoản 3 Điều 35; khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 238, Điều 273, Điều 469, khoản 2 Điều 479 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội.

Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Nguyễn Thị Nh:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Nh được ly hôn với anh S.

2. Về con chung: Chị Nguyễn Thị Nh và anh S không có con chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

3. Về tài sản chung: Chị Nguyễn Thị Nh và anh S không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Nh phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm. Nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) theo Biên lai số 0018801 ngày 23 tháng 3 năm 2021 tại Cục Thi hành án dân sự thành phố Hải Phòng. Chị Nguyễn Thị Nh đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo:

Chị Nguyễn Thị Nh được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Anh S được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày bản án được tống đạt hoặc niêm yết hợp lệ.

Trường hợp Bản án được thi hành theo Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- VKSND TP Hải Phòng;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Cục THADS TP Hải Phòng;

- UBND huyện TN;

(đã ký)

- Đương sự;

- Lưu: Hồ sơ, HCTP.

Bùi Thị Thúy Hà

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Vũ Thị Minh Nguyệt Nguyễn Huy Vĩnh

Bùi Thị Thúy Hà

Cỡ chữ