vanban.org

Bản án 55/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận Tuyên án 17/06/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo B 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 24 (hai mươi bốn) tháng tính từ ngày tuyên án. Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã PT, huyện ĐP, Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 60 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2020/HSST
Ngày: 17-6-2020

NHÂN DANH

NUỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán –Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thủy Tiên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Võ Huy Luận.

2. Bà Nguyễn Thị Minh Huấn.

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Trang– Thư ký Tòa án nhân

dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình

Thuận tham gia phiên tòa: Bà Mai Thị Hải– Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 6 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Phan

Thiết xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 64/2020/TLST- HS ngày

25 tháng 5 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số

85/2020/QĐXXST-HS ngày 03/6/2020 đối với bị cáo:

TRẦN NGUYỄN DUY K (tên gọi khác: N) – sinh năm 1994, tại tỉnh B;

Nơi cư trú: khu phố 6, phường M, thành phố P, tỉnh B; nghề nghiệp: Làm thuê

(thợ hồ); trình độ văn hóa: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo:

Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Trần Văn Tr- sinh năm 1970 và bà

Nguyễn Thị L - sinh năm 1973; Chưa có vợ con. Tiền án: Không; Tiền sự:

Không. Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư

trú”. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Ông Nguyễn Nhật T, sinh năm 1986; nơi cư trú: Khu phố 10,

phường M, thành phố P, tỉnh B (vắng mặt, có đơn xin xử vắng mặt).

- Người làm chứng:

1. Ông Nguyễn D sinh năm 1985; nơi cư trú: Khu phố 10, phường M,

thành phố P, tỉnh B (vắng mặt).

2. Bà Tạ Thị T 1 – sinh năm 1990; nơi cư trú: Khu phố 10, phường M,

thành phố P, tỉnh B (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội

dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 00 giờ 20 phút ngày 16/01/2020 bị cáo Trần Nguyễn Duy K đi

bộ quanh khu vực phường M, thành phố P với mục đích để trộm cắp tài sản. Khi đi đến trước nhà ông Nguyễn Nhật T, thuộc khu phố 10, phường M, thành phố P, Trần Nguyễn Duy K quan sát thấy trong nhà ông T còn để điện sáng và cửa không khóa nên đã đột nhập vào nhà ông T để tìm tài sản trộm cắp. Khi vào bên trong nhà, K thấy có chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime đang cắm sạc pin để trên chiếc nệm trong phòng ngủ nhà ông T. Trần Nguyễn Duy K lén lút tiếp cận rồi cầm điện thoại lên rút dây sạc đang định bỏ vào túi quần thì bị vợ chồng ông Nguyễn Nhật T, bà Tạ Thị T1 phát hiện, truy hô. Khi nghe ông T truy hô “Trộm, trộm” thì ông Nguyễn D là hàng xóm của ông T đã cùng ông T bắt giữ Trần Nguyễn Duy K cùng tang vật đưa lên Công an phường M, thành phố P trình báo. Công an phường M đã lập biên bản bản bắt người phạm tội quả tang vào lúc 00 giờ 50 phút ngày 16/01/2020.

Tang vật của vụ án: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7

Prime màu vàng đồng có số số IMEI 1: 355229083216XXX; IMEI 2: 355228083216XXX;

Tại bản kết luận định giá tài sản số 26/KL-HĐĐG ngày 21/02/2020 của

Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố P kết luận: 01 (một) chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime – số IMEI 1: 355229083216XXX – số IMEI 2: 355228083216XXX, giá trị tài sản là 2.500.000 (hai triệu năm trăm ngàn) đồng.

Qúa trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra –Công an thành phố P đã xử

lý vật chứng, trả lại chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime màu vàng đồng trên cho chủ sở hữu, ông Nguyễn Nhật T đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu bồi thường về dân sự đối với bị cáo Trần Nguyễn Duy K.

Tại bản cáo trạng số 68/CT-VKSPT ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Viện

kiểm sát nhân dân thành phố P đã truy tố đối với bị cáo Trần Nguyễn Duy K về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173, Điều 15 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên phân tích hành vi phạm tội của bị cáo, giữ

nguyên quan điểm truy tố và đề nghị hội đồng xét xử áp dụng Điều 15, khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự để quyết định hình phạt vì bị cáo thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt; áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự và áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự vì bị cáo Trần Nguyễn Duy K phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, sau khi phạm tội bị cáo Trần Nguyễn Duy K đã thành khẩn khai

báo và bị hại Nguyễn Nhật T có đơn xin bãi nại đối với bị cáo, trong đơn xin

xét xử vắng mặt bị hại Nguyễn Nhật T xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;

Kiểm sát viên đề nghị xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Duy K từ 06 (sáu) tháng tù

đến 09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 12 (mười hai)

đến 18 (mười tám) tháng.

Bị cáo không trình bày lời bào chữa, không tranh luận với Kiểm sát viên.

Bị cáo nhận thấy bị cáo đã sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành

phố P, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố P, Kiểm sát viên trong

quá trình điều tra, truy tố: Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát và những người tiến

hành tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định

của Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra, truy tố bị cáo và những người tham gia

tố tụng khác không ai có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự thủ tục tố

tụng cũng như các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố

tụng. Tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, trình tự

thủ tục tố tụng cũng như các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người

tiến hành tố tụng.

Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình

như nội dung cáo trạng đã nêu, bị cáo thừa nhận cáo trạng truy tố bị cáo là

đúng, không oan. Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời

khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp biên bản bắt người phạm tội quả

tang, phù hợp lời khai bị hại, người làm chứng, phù hợp với các tài liệu, chứng

cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết luận: Trần

Nguyễn Duy K là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo nhận thức

được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật.

Thế nhưng, vì muốn nhanh chóng có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân

nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật, khoảng 00 giờ 20 phút ngày

16/01/2020, tại khu phố 10, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, tỉnh B,

Trần Nguyễn Duy K đã có hành vi lén lút chiếm đoạt 01 điện thoại di động

hiệu Samsung J7 Prime trị giá 2.500.000 (hai triệu năm trăm nghìn) đồng của

bị hại Nguyễn Nhật T thì bị phát hiện, bắt quả tang.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản nêu trên của bị cáo Trần Nguyễn Duy

K là hành vi cố ý, hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài

sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, hơn nữa còn gây mất trật

tự trị an tại địa phương. Hành vi vừa nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành

tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1

Điều 173 Bộ luật hình sự.

Cáo trạng số 68/CT-VKSPT ngày 25 tháng 5 năm 2020 của Viện kiểm

sát nhân dân thành phố P truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và

khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ. Tuy nhiên, nhận định của Viện kiểm sát nhân dân thành phố P cho rằng bị cáo Trần Nguyễn Duy K phạm tội thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt là không có cơ sở. Bởi lẽ, chiếc điện thoại di động hiệu Samsung J7 Prime bị cáo lén lút chiếm đoạt, bị hại Nguyễn Nhật T để trên chiếc nệm trong phòng ngủ của gia đình bị hại và đang cắm sạc pin, bị cáo đã lén lút tiếp cận và cầm điện thoại lên tay, dịch chuyển chiếc điện thoải khỏi vị trí ban đầu, bị cáo đang rút dây sạc điện thoại khỏi vị trí đang sạc, đang chuẩn bị cất giữ điện thoại vào túi quần thì bị phát hiện, bắt quả tang. Hành vi này của bị cáo đã cấu thành tội phạm, việc bị cáo bị phát hiện và bị bắt giữ là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo, hành vi của bị cáo không thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt theo quy định tại Điều 15 của Bộ luật hình sự. Do bị cáo Trần Nguyễn Duy K phạm tội không thuộc trường hợp phạm tội chưa đạt nên Hội đồng xét xử không áp dụng khoản 3 Điều 57 Bộ luật Hình sự khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề xuất của

Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy là hợp lý vì quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã khai báo đầy đủ thể hiện sự thành khẩn; trước khi bị khởi tố về tội này bị cáo chưa từng bị xét xử về tội phạm khác, tội phạm do bị cáo thực hiện có khung hình phạt đến 03 năm tù, là tình tiết phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị hại Trần Nhật T có đơn xin bãi nại cho bị cáo đồng thời trong đơn xin xét xử vắng mặt bị hại Nguyễn Nhật Tảo xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội với

mức hình phạt không quá 03 năm, bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, theo lý lịch thể hiện bị cáo chưa có tiền án, tiền sự; việc không buộc bị cáo chấp hành hình phạt tù cũng đủ giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội nên Hội đồng xét xử cân nhắc áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự để tạo điều kiện cho bị cáo tự cải tạo dưới sự giám sát, giáo dục của của chính quyền địa phương.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản xong, không có yêu

cầu bồi thường nên không đặt ra giải quyết.

Về xử lý vật chứng: Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an thành phố P

đã xử lý vật chứng trả lại chiếc điện thọai di động hiệu Samsung J7 Prime cho bị hại Nguyễn Nhật T là đúng theo quy định pháp luật.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều

65 Bộ luật hình sự;

1. Tuyên bố: Bị cáo Trần Nguyễn Duy K phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt bị cáo Trần Nguyễn Duy K 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng

án treo.

Thời gian thử thách: 18 (mười tám) tháng, tính từ ngày tuyên án sơ thẩm,

ngày 17/6/2020.

Giao bị cáo Trần Nguyễn Duy K cho Ủy ban nhân dân phường M, thành

phố P, tỉnh B giám sát, giáo dục. Trong trường hợp thay đổi nơi cư trú thì được

thực hiện theo quy định của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm

nghĩa vụ hai lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án

treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự, Điều 6,

điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016

của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Trần Nguyễn Duy K phải chịu 200.000 (Hai trăm ngàn)

đồng án phí hình sự sơ thẩm.

3. Quyền kháng cáo: Án xử công khai sơ thẩm, bị cáo có mặt tại phiên

tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày

tuyên án sơ thẩm; bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án

trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết

bản án theo quy định.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Nơi nhận:

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Bị cáo

- VKSND thành phố P;

-VKSND tỉnh B;

- Công an thành phố P;

- Người tham gia tố tụng

Nguyễn Thị Thủy Tiên

- UBND phường M, TP P (để giám sát,

giáo dục bị cáo);

- Chi cục THADS P;

- Cổng TTĐT TANDTC;

- Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã

được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra - Công an thành

phố Phan Thiết, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết,

Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm

quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra

và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền và nghĩa vụ liên quan không có

người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến

hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng

của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng

pháp luật.

Về hành vi phạm tội: Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù

hợp với các tài liệu, chứng cứ do cơ quan điều tra thu thập như lời khai bị hại,

người làm chứng, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang và các tài

liệu, chứng cứ khác có tại hồ sơ và được thẩm tra tại phiên tòa, đủ cơ sở để kết

luận:

Bùi Minh Thành là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Bị cáo có

đủ nhận thức được hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm

pháp luật. Thế nhưng, vì muốn có tiền tiêu xài phục vụ cho nhu cầu cá nhân

nên bị cáo đã bất chấp các quy định của pháp luật. Khoảng 02 giờ 30 phút

ngày 08/12/2018, Bùi Minh Thành Thành leo đến cửa sổ tầng 1 nhà bà Trinh

đang khép hờ sau đó dùng một cây kim loại dài 01 mét có sẵn ở nóc nhà của Trạm y tế phường Lạc Đạo để khều lấy chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 6 Plus của bà Từ Thị Tuyết Trinh đang để trên giường ngủ có giá trị là 8.400.000 đồng. Sau đó Thành mang chiếc điện thoại vừa chiếm đoạt được đến tiệm cầm đồ “Trung Tín” tại số 581 đường Trần Hưng Đạo, Phan Thiết bán cho ông Tiêu Văn Tới với giá 1.000.000đ rồi tiêu xài hết.

Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của Bùi Minh Thành là hành vi cố ý,

hành vi đó đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, hơn nữa còn gây mất trật tự trị an tại địa phương. Hành vi vừa nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”; tội phạm và khung hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như nội dung cáo trạng số 15/CT-VKS ngày 06 tháng 3 năm 2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết truy tố là có căn cứ.

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như đề xuất

của Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử xét thấy là hợp lý vì quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo Bùi Minh Thành thành khẩn khai báo nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; trong đơn xin xét xử vắng mặt, bị hại bà Từ Thị Tuyết Trinh xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Tuy nhiên, bị cáo đã bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 09 tháng tù nhưng cho hưởng án treo về tội “Trộm cắp tài sản”, thời gian thử thách là 18 tháng, kể từ ngày 15/9/2017 theo Bản án số 129/2017/HSST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết. Như vậy, bị cáo phạm tội trong thời gian thử thách nên căn cứ vào khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự chuyển 09 tháng tù cho hưởng án treo thành 09 tháng tù giam. Do vậy, áp dụng Điều 56 của Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai bản án. Đồng thời, Bùi Minh Thành chưa chấp hành xong hình phạt lại phạm tội mới nên lần phạm tội này thuộc trường hợp “tái phạm”, đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Căn cứ vào quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ

nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân người phạm tội, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đề nghị của Viện kiểm sát, xét thấy cần xử lý nghiêm và cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để răn đe, giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

Về xử lý vật chứng vụ án:

Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Phan Thiết đã xử lý vật

chứng, trả lại chiếc điện thoại di động Iphone 6 Plus, số Imei: 359322060376980 cho người bị hại bà Từ Thị Tuyết Trinh là đúng pháp luật nên Hội đồng xét xử không đặt ra để xem xét nữa.

Đối với vật chứng là cây kim loại dài 01m bị cáo dùng vào việc phạm tội

do không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về phần bồi thường dân sự: bị hại Từ Thị Tuyết Trinh có đơn xin xử

vắng mặt và có trình bày trong đơn là đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu

gì. Qúa trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, người có quyền và nghĩa

vụ liên quan ông Tiêu Văn Tới không yêu cầu bị cáo trả lại 1.000.000 đồng đã

mua điện thoại và không có yêu cầu gì. Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của

đương sự và phù hợp với các quy định của pháp luật nên không đặt ra để xem

xét nữa.

Ông Tiêu Văn Tới khi mua điện thoại từ bị cáo không biết là tài sản

do phạm tội mà có nên không cấu thành tội “Tiêu thụ tài sản do người khác

phạm tội mà có” theo Điều 323 Bộ luật hình sự.

Về án phí: bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của

pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều

51, điểm h khoản 1 Điều 52, khoản 5 Điều 65; Điều 55; Điều 56 Bộ luật hình

sự,

Tuyên bố: Bị cáo Bùi Minh Thành phạm tội “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Bùi Minh Thành 15 (mười lăm) tháng tù, cộng 09 tháng

tù của bản án số 129/2017/HSST ngày 15/9/2017 của Tòa án nhân dân thành

phố Phan Thiết. Hình phạt chung buộc bị cáo phải chấp hành cho cả hai bản án

là 24 (hai mươi bốn) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt

bị cáo đi chấp hành án.

Căn cứ: khoản 1 Điều 46, điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, điểm

c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Tịch thu tiêu hủy 01(một) cây kim loại dài 01m bị cáo dùng vào việc

phạm tội do không còn giá trị sử dụng (hiện trạng như biên bản về việc giao

nhận vật chứng, tài sản số 62 ngày 11 tháng 3 năm 2019 của Chi cục Thi hành

án dân sự thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận).

Căn cứ: Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự, Nghị quyết số

326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về

mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án,

buộc bị cáo Bùi Minh Thành phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm.

Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền và nghĩa vụ liên

quan, báo cho biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án

(11/4/2019); người bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ