- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Vũ L và đồng bọn - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Nguyễn Vũ L và Nguyễn Văn T phạm tội “Trô ̣m cắ p tài sản”
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2020/HSST Ngày 22/7/2020 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG, TP. CẦN THƠ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Mỹ Nhung
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Bùi Thanh Trí
2. Ông Nguyễn Văn Sang
- Thƣ ký phiên tòa: Bà Trần Thị Bích Trƣơng, Thư ký Tòa án nhân dân quận Cái Răng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Cái Răng tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhủ - Kiểm sát viên.
Ngày 22 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 43/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 73/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 7 năm 2020 đối với bị cáo:
1/ Nguyễn Vũ L (Ba bền), sinh năm 1996 tại Hâ ̣u Giang; Nơi cư trú : ấp P X, thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: không; trình độ văn hóa: Lớp 01/12; dân tộc: kinh; giớ i tinh: nam; tôn giáo: không; quốc ti ̣ch:
́
Việt Nam; con ông Nguyễn Văn H và bà Hồ Thị H; tiền án: 01. Ngày 11/11/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang tuyên phạt 08 tháng tù giam về tội Trộm cắp tài sản, chấp hành xong án phạt tù ngày 30/01/2018, nộp xong án phí ngày 22/3/2017; tiền sự: không; Hiê ̣n đang thi hành án tại Trại giam Kênh 5 thuộc Cục C 10 – Bộ công an; Có mặt tại phiên tòa.
2/ Nguyễn Văn T, sinh năm 1989 tại Sóc Trăng; Nơi cư trú : ấp H B, xã Đại Hải, huyện Kế Sách, tỉnh Sóc Trăng (hiện nay không có nơi cư trú ổn định); nghề nghiệp: làm thuê; trình độ văn hóa: không biết chữ; dân tộc: kinh; giớ i tinh: nam;
́ tôn giáo: không; quốc ti ̣ch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Q và bà Mai Thị Á; tiền án: không; tiền sự: không; Hiê ̣n đang chấp hành Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Cơ sở cai nghiện ma túy thành phố Cần Thơ; Có mặt tại phiên tòa.
* Ngƣời bị hại:
1/ Ông HUỲNH PHƢỚC Đ, SN 1981
Đi ̣a chỉ: 229/4, kv. B Y, P. Long Hòa, Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ. Có đơn đề ngày 06/5/2020 xin xét xử vắng mặt.
2/ Bà NGUYỄN THỊ KIM N, SN 1982
Đi ̣a chỉ: 229/4, kv. B Y, P. Long Hòa, Q. Bình Thủy, TP. Cần Thơ. Có đơn đề ngày 07/5/2020 xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa , nô ̣i dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 15 giờ, ngày 03 tháng 10 năm 2019 Nguyễn Vũ L (tên gọi khác là Ba Bền) mượn xe nhãn hiệu Attila không nhớ biển số của người tên Vĩnh (không rõ nhân thân và địa chỉ) rồi rủ Nguyễn Văn T điều khiển chở L đi từ thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đến quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ mục đích để chuộc lại giấy tờ đã cầm trước đó nhưng không chuộc được. Sau đó T điều khiển xe chở L đi về đến khu dân cư Hồng Loan, phường Hưng Thạnh, quận Cái Răng, T điều khiển xe rẽ vào khu dân cư, lúc này L và T phát hiện xe mô tô biển số 65P4-2937 đang dựng trên đường, có cắm sẵn chìa khóa, không người trông coi nên L kêu T dừng xe lại để L đi đến lấy trộm, T đồng ý dừng xe lại, L đi vào lấy xe, sau đó L và T mỗi người điều khiển một chiếc xe về nhà. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, L và T đến tiệm game bắn cá Ấn Tượng tại thị trấn Mái Dầm, huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang, L trả xe Attila cho người tên Vĩnh đồng thời kiểm tra trong cốp xe mô tô biển số 65P4-2937 có các giấy tờ gồm: Giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65P4-2937, 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ATM, sau đó L lấy 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ATM cho người tên Vĩnh rồi bàn bạc với T mang xe đi bán để lấy tiền tiêu xài nhưng do giấy tờ xe không chính chủ nên không bán được. Đến ngày 05 tháng 10 năm 2019 T mang xe đi cầm thì bị lực lực công an phát hiện mời về trụ sở làm việc (BL 85-86, BL 89-90).
Tại cơ quan điều tra Nguyễn Vũ L và Nguyễn Văn T đã nhận tội (BL 85-86, BL 89-90).
Tang vật thu giữ gồm: Xe mô tô biển số 65P4-2937, số máy HC09E6011029, số khung 090X6Y010929; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65P4-2937. Đối với 01 giấy chứng minh nhân dân, 01 giấy phép lái xe, 01 thẻ ATM không thu hồi được (BL 98).
Tại kết luận định giá tài sản số 114/TCKH-HĐĐG ngày 08 tháng 10 năm 2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cái Răng kết luận: 01 xe mô tô hiệu Honda Wave alpha biển số 65P4-2973, số khung 090X6Y010929, số máy HC09E6011029 có giá trị 9.700.000 đồng (BL 24-25).
Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã xử lý vật chứng trả lại cho chủ sở hữu Huỳnh Phước Đ 01 xe mô tô biển số 65P4-2937, số máy HC09E6011029, số khung 090X6Y010929; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65P4-2937 (BL 18-19).
Đối với người tên Vĩnh do L không biết rõ nhân thân và địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tiếp tục xác minh làm rõ đủ căn cứ sẽ xử lý sau.
Tại cáo trạng số: 39/CT-VKS-CR ngày 10/4/2020 Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng đã truy tố Nguyễn Vũ L, Nguyễn Văn T về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒ A Á N:
Trên cơ sở nô ̣i dung vu ̣ án, căn cứ vào các tài liê ̣u trong hồ sơ vu ̣ án đa đượ̃
c tranh tu ̣ng ta ̣i phiên tòa, Hô ̣i đồng xét xử nhâ ̣n đi ̣nh như sau:
[1] Tại phiên tòa hôm nay, cả hai bị cáo L và T đều thừa nhận đã cùng nhau trộm xe mô tô biển số 65P4-2937 của anh Huỳnh Phước Đ. Mục đích trộm tài sản là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Lời nhận tội của các bị cáo phù hợp với những chứng cứ khác đã được thu thập hợp pháp trong hồ sơ.
[2] Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị mức án đối với các bị cáo cụ thể như sau:
- Nguyễn Vũ L từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
- Nguyễn Văn T từ 09 tháng đến 01 năm tù về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hội đồng xét xử thấy rằng, các bị cáo đều biết và nhận thức được trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn liều lĩnh xem thường pháp luật, cố tình phạm tội. Hành vi của các bị cáo không những đã trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác mà còn gây ảnh hưởng xấu đến an ninh trật tự xã hội tại địa phương. Giá trị tài sản mà các bị cáo đã lấy trộm được xác định có giá trị là 9.700.000 đồng (Chín triệu bảy trăm ngàn đồng). Cho nên Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng truy tố cả hai bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là hoàn toàn chính xác.
[4] Bản thân các bị cáo có sức khỏe, có điều kiện lao động chân chính nhưng lại lười biếng nên đã tìm sơ hở của người khác để trộm cắp tài sản nhằm bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.
[5] Nguyễn Vũ L là người trực tiếp thực hiện hành vi lấy trô ̣m xe và điều khiển về giao lại cho đồng bọn tìm nơi tiêu thụ. Bản thân bị cáo có một tiền án chưa được xóa nên lần phạm tội này được coi là tái phạm theo qui định điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự . Ngày 07/4/2020, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang đã xử phạt Nguyễn Vũ L 15 tháng tù về tô ̣i Trộm cắp tài sản. Bản án đã có hiệu lực pháp luật nên HĐ XX cần tổng hợp hinh pha ̣t theo qui
̀ định.
[6] Nguyễn Văn T biết là L trộm xe, không ngăn cản mà còn cảnh giới và tìm nơi tiêu thụ, với vai trò giúp sức rất tích cực. Tuy bị cáo đã được xóa án tích về tội Trộm cắp tài sản nhưng vẫn không được áp dụng tình tiết phạm tội lần đầu và thuô ̣c trườ ng hợp it nghiêm tro ̣ng theo qui định tại điểm i khoản 1 Điều 51 Bộ luật
́ hình sự.
[7] Trong vụ án này tuy các bị cáo chỉ đồng phạm giản đơn, không có sự cấu kết và phân công vai trò chặt chẽ, nhưng khi thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác, thao tác cả 02 bị cáo rất dứt khoát, nhanh nhẹn và phối hợp vớ i nhau rất ăn ý . Cho thấy bản chất các bi ̣ cáo là xem thường pháp luật, không ăn năn hối cải. Do vậy cả hai phải chịu hình phạt tương xứng với hành vi của mình, để các bị cáo có thời gian cải tạo bản thân tốt hơn và cũng nhằm răn đe phòng ngừa tội phạm chung. Có như vậy mới góp phần giáo dục ý thức tuân thủ pháp luật trong nhân dân. Tuy nhiên khi lượng hình Hội đồng xét xử cũng có cân nhắc đến thái độ khai báo thành khẩn của 02 bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa theo điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[8] Về tang vật: theo Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 26/3/2020 (BL 19) thì bị hại Huỳnh Phước Đ đã nhận lại: 01 xe mô tô biển số 65P4-2937, số máy HC09E6011029, số khung 090X6Y010929; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65P4-2937. Bị hại không yêu cầu gì khác nên không đặt ra giải quyết.
Vì các lẽ trên.
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Nguyễn Vũ L và Nguyễn Văn T phạm tội “Trô ̣m cắ p tài sản”
Căn cứ vào : khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 55 và Điều 56 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Vũ L 15 (mƣời lăm) tháng tù. Tổng hợp hình phạt 15 (mười lăm) tháng tù tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2020/HSST ngày 07/4/2020 của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Hậu Giang; Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt chung là 2 (hai) năm 6 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 20/11/2019.
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 173, Điều 38, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Xử phạt:
Bị cáo Nguyễn Văn T 9 (chín) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bô ̣ luâ ̣t tố tu ̣ng hinh sự:
̀
Ghi nhâ ̣n viê ̣c: Bị hại Huỳnh Phước Đ đã nhận lại: 01 xe mô tô biển số 65P4-2937, số máy HC09E6011029, số khung 090X6Y010929; 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô biển số 65P4-2937 theo Biên bản về việc trả lại tài sản ngày 26/3/2020 (BL 19).
Mỗi bị cáo Nguyễn Vũ L và Nguyễn Văn T phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; đối với những người tham gia tố tụng khác vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết tại địa phương nơi cư trú để xin xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND. TP/ Cần Thơ. - VKSND.Q.Cái Răng. - Trại giam, Công an Q. Cái Răng. - Cơ quan Thi hành án. - Bị cáo. - Các đương sự. - Lưu HS – BA. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Mỹ Nhung |