vanban.org

Bản án 55/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang Tuyên án 08/07/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản”

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phương N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án. Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG
TỈNH TUYÊN QUANG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2020/HS-ST
Ngày: 08/7/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TUYÊN QUANG, TỈNH TUYÊN QUANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Lan

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Lý Khắc Đồng - Bà Lý Thuý Hà

- Thư ký phiên tòa: Ông Hoàng Kỳ Khôi - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thu Hiền - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 7 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang mở phiên tòa công khai xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 57/2020/TLST - ST ngày 29 tháng 5 năm 2020; theo QĐXX số 54/2020/ QĐXXST - HS ngày 09 tháng 6 năm 2020; Quyết định hoãn phiên toà số 11/2020/ HSST-QĐ ngày 23/6/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Phương N, Sinh ngày 13/9/2000. Nơi cư trú: Tổ 3, phường N T, thành phố T, tỉnh Q; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 9/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Họ tên cha: Nguyễn Bá Ng, sinh năm 1980; Họ tên mẹ: Nguyễn Thị Thu Th, sinh năm 1980; Anh, chị, em ruột: Không có; Vợ, con: Chưa có.

* Tiền án: Không.

* Tiền sự: Ngày 20/01/2019, Công an phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 02, về hành vi Trộm cắp tài sản, phạt 1.500.000 đồng (Các ngày: 19/02/2019, 20/6/2019, 7/11/2019 và ngày 03/3/2020, Công an phường Nông Tiến đã có văn bản đôn đốc nhưng đến nay vẫn chưa nộp phạt).

* Nhân thân:

- Ngày 17/9/2016, Công an huyện Yên Sơn, tỉnh Tuyên Quang, xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 290 về hành vi Trộm cắp tài sản, phạt cảnh cáo.

- Ngày 06/6/2017, Công an phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 52 về hành vi Trộm cắp tài sản, phạt 1.000.000 đồng (Ngày 20/7/2017 đã nộp phạt)

* Bị cáo hiện đang áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú tại phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang, tỉnh Tuyên Quang. Có mặt tại phiên toà.

* Bị hại: Mai Hải D, sinh năm 1997. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Tổ 11, phường Th, thành phố T, tỉnh Q.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Buổi tối ngày 22/3/2020, Nguyễn Phương N (đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản) đến chơi điện tử tại quán Interet Gaming House, thuộc tổ 17, phường Tân Quang, thành phố Tuyên Quang của anh Mai Hải D, sau đó N ngủ lại tại bàn chơi điện tử.

Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 23/3/2020, Nam thức dậy thấy anh D đang ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. N đi đến bàn quầy thu tiền, nơi đặt máy chủ của quán mở ngăn kéo bàn quầy thấy 01 tập tiền buộc ngoài bằng 01 chiếc chun (nịt), N cầm tập tiền lên rút lấy 220.000 đồng (gồm 02 tờ mệnh giá 100.000 đồng và 01 tờ mệnh giá 20.000 đồng) rồi cất giấu vào túi quần đang mặc, số tiền còn lại N để vào chỗ cũ, quay lại bàn chơi điện tử ngủ tiếp, đến khoảng 06 giờ cùng ngày N đi về.

Đến khoảng 06 giờ 30 phút cùng ngày, anh D kiểm tra tiền phát hiện bị thiếu, mở Camera an ninh của quán kiểm tra, phát hiện N lấy trộm tiền, đã trình báo Công an thành phố Tuyên Quang đề nghị giải quyết.

Đối với N, sau khi về nhà mượn điện thoại di động và xe môtô BKS 22H4-6346 của bà Vương Thị Kim L (bà ngoại của Nam) đi ăn sáng, sau đó điều khiển xe đến quán Intrenet Gaming House II, thuộc tổ 16, phường Minh Xuân, thành phố Tuyên Quang chơi điện tử. Khoảng 15 giờ (cùng ngày), Công an thành phố Tuyên Quang đến quán Intrenet Gaming House II mời Nam về trụ sở làm việc, N khai nhận hành vi phạm tội của mình. Tiến hành xét nghiệm tìm chất ma túy đối với N có kết quả (+) dương tính, có chất ma túy trong cơ thể. N khai nhận sáng ngày 23/3/2020 đã mua 50.000 đồng cần sa của một người tên H, không biết địa chỉ cư trú để sử dụng, bằng hình thức đốt hít vào cơ thể.

Quá trình điều tra, ngày 23/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang thu giữ của Nguyễn Phương N 01 xe môtô BKS 22H4-6346; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GIGI. Ngày 09/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 26, trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu bà Vương Thị Kim L.

Từ nội dung trên, tại bản Cáo trạng số 58/CT-KSĐT ngày 29 tháng 5 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang đã truy tố bị cáo Nguyễn Phương N về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, kết thúc phần xét hỏi, đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo về tội danh, điều luật đã nêu như nội dung bản cáo trạng và đề nghị HĐXX:

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương N phạm tội Trộm cắp tài sản.

- Áp dụng: điểm a khoản 1 Điều 173; điểm b, i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Phương N từ 06 tháng đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

Về dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Mai Hải D số tiền 220.000đ. Anh D đã nhận lại tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm nên đề nghị HĐXX không xem xét.

Về vật chứng: Trong giai đoạn điều tra Cơ quan cảnh sát điều tra đã giải quyết xong nên không đề nghị HĐXX xem xét.

Về hình phạt bổ sung: Qua xác minh bị cáo không có tài sản, không có thu nhập ổn định nên đề nghị HĐXX không áp dụng hình phạt bổ sung.

Ngoài ra, đại diện Viện kiểm sát còn đề nghị Hội đồng xét xử buộc bị cáo phải chịu án phí và tuyên quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Bị cáo Nguyễn Phương N, tại phiên tòa tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, nội dung khai báo của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, không có tình tiết mới; bị cáo nhất trí với luận tội của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, không có ý kiến tranh luận và cũng không có ý kiến gì để bào chữa cho hành vi phạm tội của mình.

Kết thúc phần tranh tụng, bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức được hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự; tại phiên tòa, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng nhiệm vụ, quyền hạn khi thực hành quyền công tố. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của bị cáo: Tại phiên tòa, bị cáo tiếp tục khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi phạm tội của bị cáo còn được chứng minh qua biên bản khám nghiệm hiện trường; biên bản tạm giữ đồ vật, tài liệu; lời khai bị hại, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận: Khoảng 04 giờ 30 phút ngày 23/3/2020, tại quán Internet Gaming House của anh Mai Hải D, thuộc tổ 17, phường T, thành phố Q, Nguyễn Phương N, cư trú tại tổ 3, phường N T, thành phố T, đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi Trộm cắp tài sản, có hành vi trộm cắp số tiền 220.000 đồng (Hai trăm hai mươi nghìn đồng) của anh D.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, bị cáo là người có năng lực trách nhiệm hình sự, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, đã có hành vi lén lút, bí mật trốn tránh sự phát hiện của người quản lý tài sản để chiếm đoạt tài sản của họ. Hành vi của bị cáo được thực hiện dưới hình thức lỗi cố ý trực tiếp, mục đích vụ lợi; hành vi của bị cáo đã xâm phạm quyền sở hữu của người khác về tài sản. Bị cáo có Tiền sự, ngày 20/01/2019, Công an phường Nông Tiến, thành phố Tuyên Quang xử phạt vi phạm hành chính tại Quyết định số 02, về hành vi Trộm cắp tài sản, phạt 1.500.000 đồng (Các ngày: 19/02/2019, 20/6/2019, 7/11/2019 và ngày 03/3/2020, Công an phường Nông Tiến đã có văn bản đôn đốc nhưng đến nay vẫn chưa nộp phạt). Do vậy Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuyên Quang truy tố bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật cần chấp nhận.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Xét thấy bị cáo không có thu nhập ổn định, không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo đã bồi thường cho anh Mai Hải D số tiền 220.000đ. Anh D đã nhận lại tiền, không yêu cầu bồi thường gì thêm về phần dân sự nên HĐXX không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Quá trình điều tra, ngày 23/3/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Tuyên Quang thu giữ của Nguyễn Phương N 01 xe môtô BKS 22H4-6346; 01 điện thoại di động nhãn hiệu GIGI. Ngày 09/4/2020, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố đã ra Quyết định xử lý vật chứng số 26, trả lại các tài sản trên cho chủ sở hữu bà Vương Thị Kim L nên HĐXX không xem xét.

Đối với Hành vi sử dụng trái phép chất ma túy của Nguyễn Phương N, ngày 12/5/2020, Công an thành phố Tuyên Quang ra Quyết định số 357 xử phạt vi phạm hành chính, phạt cảnh cáo nên HĐXX không xem xét.

Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Căn cứ: Điều 173 của Bộ luật hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Phương Nam phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2. Căn cứ: Điểm a, khoản 1 Điều 173; điểm b, điểm i, điểm s khoản 1, Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Phương N 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.

3. Căn cứ vào khoản 2 Điều 136; khoản 1 Điều 331, khoản 1 Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

- Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

- Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ