vanban.org

Bản án 55/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Huế, TP. Huế Tuyên án 06/05/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trịnh công Th - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
T
NH DÂN
T
T
T
T

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2020/HS-ST
Ngày: 06 - 5- 2020

NH DANH

Ủ

T M

T

NH

T

, T

T

T

- Thành ph n Hội đ ng t ử sơ thẩm g m có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Tôn Minh Hiền

Các Hội thẩm Nh dân: Bà Hoàng Thị Lan Phương và bà Trần Thị Ngọc Quyên

- Thư k phiên t a: Ông Nguyễn Văn Thuận, Thư ký Tòa án.

- ại diện Viện kiểm sát Nh dân thành phố Huế tham gia phiên t a: Ông Kiều Anh Mỹ, Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 5 năm 2020, tại trụ sở Tòa án Nh dân thành phố H xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 28/2020/HSST ngày 06 tháng 02 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 127/2020/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 4 năm 2020 đối với bị cáo:

Trịnh Công Th, sinh ngày 12 tháng 7 năm 1986, tại tỉnh Thừa Thiên Huế; Nơi cư trú: Khu phố A, phường B, thị xã H, tỉnh Thừa Thiên Huế; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ học vấn: 12/12; giới tính: nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trịnh Công Nghĩa, sinh năm 1963 và bà Nguyễn Thị Đoan, sinh năm 1964; vợ: Phạm Thị Kiều D, sinh năm 1988; con: có 02 con; con lớn 07 tuổi, con nhỏ 04 tuổi.

Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 10/10/2019 đến nay. Có mặt.

* Bị h i: Anh Trần Thành Nh, sinh năm 1981; nơi cư trú: 1/510 Đ, phường C, quận S, thành phố Hà Nội. Vắng mặt.

* gười có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Chị Phạm Thị Kiều D, sinh năm 1988; nơi cư trú: 52 P, thị trấn Ph, huyện K, tỉnh Quảng Ngãi. Vắng mặt.

- Anh Đinh Kim S, sinh năm 1986; nơi cư trú: 624 M, Phường S, Quận Y, Thành phố Hồ Chí Minh. Vắng mặt.

N I DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 18/9/2019, Trịnh Công Th khi đang trú mưa tại 01 ngôi nhà đang xây dựng ở đường Âu Lạc, phường An Đông, thành phố H thì nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Khoảng 01 giờ sáng ngày 19/9/2019, Th nhìn thấy bên cạnh là dãy nhà liền kề đang xây dựng là ngôi nhà 3 tầng của chị Trương Nguyễn Thị Hoài L ở tại Lô Y, đường U, phường A, thành phố H. Th đi lên sân thượng của những ngôi nhà đang xây dựng rồi đi đến sân thượng nhà chị Linh. Th phát hiện cửa sân thượng vào nhà không đóng nên đi vào theo cầu thang xuống tầng 2 đến phòng ngủ cạnh cầu thang. Th nhìn thấy anh Trần Thành Nh đang nằm ngủ, ở trên tủ gỗ cạnh đầu giường có để 01 điện thoại di động Iphone X màu trắng, 01 đồng hồ Rolex màu vàng đen, dưới sàn nhà gần tủ gỗ có để 01 túi xách màu ghi. Th liền lấy trộm toàn bộ các tài sản trên rồi lên sân thượng của nhà chị Linh. Th lục soát túi xách lấy được: 1.600.000 đồng, 3000 Ringit (tiền Malaysia), 5000 Nh dân tệ (tiền Trung Quốc) và 04 thẻ tín dụng đều mang tên Trần Thành Nh của Ngân hàng Thương mại cổ phần Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank), Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (Agribank), Ngân hàng thương mại cổ phần Công thương Việt Nam (Viettinbank) và Ngân hàng thương mại cổ phần Kỹ thương Việt Nam (Techcombank). Quá trình lục soát tài sản Th nhìn thấy ngày tháng năm sinh của anh Nguyễn Thành Nh là 28/11/1981 trên thẻ Căn cước công dân. Th nghĩ rằng mật khẩu các thẻ ATM thường được đặt theo ngày tháng năm sinh của chủ thẻ nên Th nhớ dãy số này. Sau đó Th đi xe Taxi đến trạm ATM của Ngân hàng thương mại cổ phần Hàng hải Việt Nam (Maritimebank) tại ngã ba đường Lý Thường Kiệt - Nguyễn Văn Cừ, thành phố H rồi lấy thẻ ATM Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam và sử dụng mật khẩu 28111981 rút được 3.000.000 đồng, sử dụng thẻ ATM Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với mật khẩu như cũ rút 02 lần mỗi lần 3.000.000 đồng, tổng cộng là 6.000.000 đồng. Sau đó Th đi đến trạm ATM của Ngân hàng Công thương Việt Nam tại ngã tư Nguyễn Huệ - Nguyễn Trường Tộ, thành phố H và sử dụng thẻ ATM của Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam với mật khẩu như cũ rút 23 lần, mỗi lần 2.000.000 đồng, tổng cộng là 46.000.000 đồng. Sau đó Th vứt các thẻ ATM, do không xác định được vị trí nên không thu giữ được. Sau khi thực hiện xong hành vi trộm cắp Th bỏ trốn vào thành phố Hồ Chí Minh và bán đồng hồ Rolex cho anh Đinh Kim S (sinh năm 1986, trú tại 244 Kinh Dương Vương, phường An Lạc, quận Bình Tân, thành phố Hồ Chí Minh) được 120.000.000 đồng. Còn điện thoại Iphone X, Th để lại trên trần thạch cao trong nhà vệ sinh của quán cà phê Thủy Trúc ở 197 Đinh Bộ Lĩnh, phường 26, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh. Số tiền có được từ việc trộm cắp Th mua 01 điện thoại Samsung Note 10 với giá 28.000.000 đồng, đưa cho vợ là Phạm Thị Kiều D 50.000.000 đồng. Còn lại Th để lại tiêu dùng cá Nh.

* Vật chứng thu giữ:

- Thu từ Trịnh Công Th: 14.000.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Note 10, màu đen bạc;

- Thu từ anh Đinh Kim S: 01 đồng hồ nhãn hiệu Rolex, màu vàng đen;

- Thu từ chị Phạm Thị Kiều D: 50.000.000 đồng;

- Thu từ chị Trương Nguyễn Thị Hoài L: 01 hộp giấy màu trắng của điện thoại Iphone X màu trắng bạc, 01 hóa đơn mua đồng hồ Rolex ngày 25/6/2019 và 01 thẻ bảo hành đồng hồ Rolex bằng nhựa màu trắng, xanh, vàng.

- Thu tại trần nhà vệ sinh quán cà phê Thủy Trúc ở 197 Đinh Bộ Lĩnh, Phường 26, quận Bình Thạnh, thành phố Hồ Chí Minh: 01 điện thoại Iphone X màu trắng;

* Tại bản kết luận định giá tài sản số 274 ngày 25/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố H kết luận: 01 Điện thoại di động Iphone X giá trị: 8.000.000 đồng, 01 đồng hồ Rolex màu vàng đen giá trị 250.000.000 đồng..

* Tại Công văn số 753/TTH-THNSKSNB ngày 16/12/2019 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam chi nhánh tỉnh Thừa Thiên Huế xác định tỷ giá Đồng Việt Nam (VNĐ) với Nh dân tệ Trung Quốc (CNY) và Ringit Malaysia (MYR) ngày 19/9/2019 là: 1 CNY = 3.264,82 VNĐ; 1 MYR = 5.533,96 VNĐ.

* Về xử lý vật chứng:

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H đã trả lại 01 điện thoại di động Iphone X, 01 đồng hồ Rolex màu vàng đen, 01 hộp giấy màu trắng của điện thoại Iphone X, 01 hóa đơn mua đồng hồ Rolex ngày 25/6/2019, 01 thẻ bảo hành đồng hồ Rolex bằng nhựa màu trắng, xanh, vàng cho anh Trần Thành Nh.

Về trách nhiệm bồi thường dân sự:

Anh Trần Thành Nh yêu cầu Trịnh Công Th bồi thường 88.600.000 đồng (trong đó tiền Th lấy trộm trong thẻ ATM là 55.000.000 đồng, tiền trong ví là 1.600.000 đồng, tiền ngoại tệ bị lấy trộm trị giá 32.000.000 đồng). Anh Nh đã nhận lại 64.000.000 đồng do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố H thu giữ; còn lại 24.600.000 đồng anh Nh đồng ý nhận điện thoại di động Samsung Note 10 mà Th đã mua để bù trừ. Ngoài ra, anh Nh không có yêu cầu gì khác về dân sự và xin giảm nhẹ hình phạt cho Trịnh Công Th.

Anh Đoàn Ngọc Thanh S là con dì ruột của Trịnh Công Th đã bồi thường cho anh Đinh Kim S 120.000.000 đồng mà anh S đã bỏ ra mua đồng hồ Rolex. Anh S đã nhận đủ số tiền trên và không có yêu cầu gì khác. Anh Sang không yêu cầu Th bồi thường lại số tiền đã bỏ ra bồi thường cho anh S.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo Trịnh Công Th đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, công nhận việc khởi tố của Cơ quan điều tra và truy tố của Viện kiểm sát là đúng với hành vi của bị cáo.

Tại bản cáo trạng số 43/CT-VKS ngày 06 tháng 02 năm 2020, Viện kiểm sát Nh dân thành phố Huế truy tố Trịnh Công Th về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố H đề nghị Hội đồng xét xử:

- Tuyên bố bị cáo Trịnh Công Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”; áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 xử phạt bị cáo từ 07 năm đến 07 năm 06 tháng tù.

- Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

NHẬ ỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Khoảng 01 giờ ngày 19/9/2019, Trịnh Công Th phát hiện cửa sân thượng nhà chị Trương Nguyễn Thị Hoài Linh ở Lô F1 đường Âu Lạc, phường An Đông, thành phố H không đóng nên đã đi vào lén lút chiếm đoạt của anh Trần Thành Nh 01 đồng hồ nhãn hiệu Rolex trị giá 250.000.000 đồng, 01 điện thoại di động Iphone X trị giá 8.000.000 đồng, 1.600.000 đồng, 3000 Ringit (tiền Malaysia) tương đương 16.601.880 đồng, 5000 Nh dân tệ (tiền Trung Quốc) tương đương 16.324.100 đồng, dùng thẻ ATM chiếm đoạt của anh Nh rút tiền mặt 55.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản mà Th đã chiếm đoạt là 347.525.980 đồng. Do đó, Viện kiểm sát Nhân dân thành phố H truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm a khoản 3 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 là có căn cứ, đúng quy định của pháp luật.

[2] Bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì hám lợi, muốn có tiền tiêu xài không chính đáng nên dẫn đến việc phạm tội. Bị cáo phạm vào tội rất nghiêm trọng, lợi dụng sơ hở của chủ nhà chiếm đoạt nhiều tài sản có giá trị tương đối lớn. Hành vi phạm tội của bị cáo đã gây nguy hiểm cho xã hội, không những xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, mà còn làm ảnh hưởng xấu đến an toàn, trật tự xã hội nên cần phải xử lý nghiêm để có tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa.

[3] Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đặc điểm Nh thân của bị cáo, thấy rằng: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, không phạm vào tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo; bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan; bị hại có đơn xin giảm nhẹ hình phạt nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015.

Xét thấy rằng: Bị cáo có Nh thân tốt, có 02 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 và 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 nên cần áp dụng Điều 54 Bộ luật Hình sự 2015, xử phạt bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt cũng đủ tác dụng giáo dục, răn đe, phòng ngừa.

[4] Về xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra đã giải quyết xong, không ai có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

[6] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng trong điều tra, truy tố, xét xử: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử vụ án, Điều tra viên, Kiểm sát viên khi thực hiện hành vi cũng như ban hành các Quyết định tố tụng đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định tại Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đã thực hiện đều hợp pháp.

Vì các lẽ trên,

QUY T ỊNH:

1. Tuyên bố bị cáo Trịnh Công Th phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt: Áp dụng điểm a khoản 3 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 của Bộ luật Hình sự năm 2015;

Xử phạt bị cáo Trịnh Công Th 06 (sáu) năm tù. Thời gian chấp hành hình phạt được tính từ ngày 10/10/2019.

3. Về án phí hình sự sơ thẩm: Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo Trịnh Công Th phải chịu 200.000 đồng.

Án sơ thẩm xét xử công khai, báo cho bị cáo biết có quyền kháng cáo bản án này trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Những người vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được hoặc niêm yết bản án.

Cỡ chữ