vanban.org

Bản án 55/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Hồng Bàng, TP. Hải Phòng Tuyên án 08/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tịch thu tiêu h y 01 mũ cối màu xanh có vết rách dài 12cm tù chóp mũ đến vãnh mũ bên phải; 01 thanh Inox dài 20cm và 01 thanh kiếm dài 50cm có cán gỗ, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, vỏ kiếm màu đen (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11-8-2020 tại Chi cục Thi hành án dân …

Bị cáo phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ th m. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án hoặc niêm yết bản án./. Nơi nh n: Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "DPN - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 20…"
  • Tòa quyết gì? Tịch thu tiêu h y 01 mũ cối màu xanh có vết rách dài 12cm tù chóp mũ đến vãnh mũ bên phải; 01 thanh Inox dài 20cm và 01 thanh kiếm dài 50cm có cán gỗ, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, vỏ kiếm màu đen (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11-8-2020 tại Chi cục Thi hành án dân …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố t ng hình sự
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2019/HSST
Ngày 08-9-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NH N N QUẬN HỒNG BÀNG, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thái Thuận;

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Điển

Bà Đặng Thị Thu Hiền

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị C m Vân - Thư ký Toà án c a Toà án nhân dân quận H ng Bàng, thành phố Hải Ph ng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân u n Hồng Bàng tham gia phiên t a: Ông Phạm Duy Trường - Kiểm sát viên.

Ngày 08 tháng 9 năm 2020 tại tr s Toà án nhân dân quận H ng Bàng, thành phố Hải Ph ng xét xử sơ th m công khai v án hình sự sơ th m th lý số: 57/2020/TLST-HS ngày 11 tháng 8 năm 2020 theo Quyết định đưa v án ra xét xử số: 57/2020/QĐXXST-HS ngày 25-8-2020, đối với bị cáo:

DPN, sinh năm 1998, tại Hải Ph ng. Nơi cư trú: Số 3/2 A, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; bố là: D, mẹ là: E; chưa có v con; tiền án: Không, tiền sự: Không; bị tạm gi ngày 15-5-2020, bị tạm giam t ngày 20-5-2020; có mặt.

- Bị hại: Anh BH; trú tại: Số 28 F, phường B, quận C, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.

- Người làm chứng:

1. Anh NLC1, vắng mặt.

2. Anh NLC2, vắng mặt.

3. Anh NLC3, vắng mặt.

NỘI UNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ v án và diễn biến tại phiên t a, nội dung v án đư c tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ ngày 29-5-2017, DPN có xảy ra mâu thuẫn trong việc va chạm xe mô tô khi tham gia giao thông với anh NLC1 dẫn đến việc cãi chửi nhau tại khu vực dốc hầm B, quận C. Sau đó, DPN điều khiển xe mô tô đi trả xe tại quán nước gần đó. Khi đi đến số nhà 28 đường F, phường B, quận C, DPN gặp lại NLC1 đang ng i chơi cùng một số người, trong đó có anh BH. Tại đây, NLC1 gọi DPN lại và hai bên tiếp t c xảy ra cãi chửi nhau. Thấy vậy, anh BH có nói với DPN “Đây là cháu tao, có việc gì”. DPN bảo anh BH “không phải việc c a ông” thì anh BH chỉ tay vào mặt DPN và nói: “mày c n thận không ăn đ n đấy”. DPN không nói gì tiếp t c điều khiển xe mô tô đi trả xe, r i DPN đi bộ về nhà bà nội. Trên đường đi, DPN có nhặt đư c 01 con dao tại khu vực đường tàu, cạnh dốc hầm B. Do bực tức vì v a bị anh BH đe dọa, DPN đã giấu con dao trên vào trong người và đi bộ đến nhà anh BH Số 28 F, B. Khi cách nhà anh BH khoảng 10-15 mét, DPN nhìn thấy anh BH c i trần, mặc quần soóc, đầu đội mũ cối đang ng i trên xe mô tô trước cửa nhà. DPN lấy con dao giấu trong người ra cầm tay phải chạy đến phía sau anh BH, chém 01 nhát vào phần đầu t trên xuống dưới, trúng mũ cối anh BH đang đội làm mũ cối bị rách, anh BH bị thương tích tại vùng đầu. Sau đó, DPN cầm dao bỏ chạy theo đường F về hướng Trạm y tế phường B. Con dao dùng để chém anh BH, DPN đã vứt xuống sông G trong lúc bỏ chạy.

Sau khi gây án, DPN bỏ đi khỏi địa phương. Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an quận H ng Bàng đã ra Quyết định truy nã. Đến ngày 15-5-2020, DPN bị bắt tại Khu dân cư H, xã I, huyện J, thành phố Hải Ph ng.

Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 291/2017/TgT ngày 20-6-2017 c a Trung tâm Pháp y Hải Ph ng kết luận: “... Nạn nhân bị 01 vết thương rách da đầu lớn gây vỡ bản ngoài xương hộp sọ, không tụ máu nội sọ, đã được điều trị đang dần ổn định ... Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do thương tích trên gây nên là: 17% (Mười bảy phần trăm)... Thương tích trên có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên.”.

Tại Cáo trạng số: 48/CT-VKSHB ngày 10-8-2020 c a Viện Kiểm sát nhân dân quận H ng Bàng truy tố bị cáo DPN phạm tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên t a, bị cáo nhận tội như nội dung cáo trạng c a Viện kiểm sát đã truy tố và xin giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát gi nguyên cáo trạng, đề nghị Hội đ ng xét xử kết tội bị cáo về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015, với tình tiết định khung hình phạt là “dùng hung khí nguy hiểm”. Theo đó, đề nghị Hội đ ng xét xử xem xét áp d ng quy định tại Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo DPN dưới mức thấp nhất c a khung hình phạt,.t 18 tháng đến 21 tháng tù. Không áp d ng hình phạt b sung đối với bị cáo.

Đề nghị Hội đ ng xét xử áp d ng Điều 47 c a Bộ luật Hình sự, Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự, tịch thu tiêu h y một chiếc mũ cối màu xanh bị rách, một thanh I-nốc và 01 thanh kiếm có vỏ bao c a bị hại vì không c n giá trị sử d ng.

Bị cáo phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ th m theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ s nội dung v án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ v án đã đư c tranh t ng tại phiên t a, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:

Về th t c tố t ng:

Về tài liệu, chứng cứ Cơ quan cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H ng Bàng, Kiểm sát viên thu thập; bị cáo, người tham gia tố t ng khác cung cấp đều thực hiện đúng quy định c a Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên t a, bị cáo và người tham gia tố t ng khác không có khiếu nại về nh ng chứng cứ, tài liệu đã thu thập, cung cấp. Do đó, nh ng chứng cứ, tài liệu trong v án đều h p pháp.

Về hành vi, quyết định tố t ng c a Cơ quan Cảnh sát điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận H ng Bàng, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về th m quyền, trình tự, th t c quy định c a Bộ luật Tố t ng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên t a, bị cáo và người tham gia tố t ng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định c a các cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng như đã nêu trên. Do đó, các hành vi, quyết định tố t ng c a các cơ quan tiến hành tố t ng, người tiến hành tố t ng đã thực hiện đều h p pháp.

Về tội danh:

Chứng cứ xác định bị cáo có tội: Tại phiên t a, bị cáo th a nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố. Lời khai nhận tội c a bị cáo phù h p với lời khai c a bị hại, lời khai c a người làm chứng về nguyên nhân, thời gian, địa điểm xảy ra tội phạm. Lời khai c a bị cáo c n đư c chứng minh bằng Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 291/2017/TgT ngày 20-6-2017 c a Trung tâm Pháp y Hải Ph ng xác định thương tích c a nạn nhân, về vị trí vết thương, cơ chế hình thành vết thương, về tỷ lệ t n thương cơ thể c a bị hại và đặc điểm hung khí gây ra thương tích trên cơ thể bị hại. Qua đó, có đ cơ s xác định, khoảng 16 giờ 50 phút, ngày 29-5-2017, do bị cáo bực tức t trước với bị hại, nên bị cáo đã dùng con dao nhặt đư c có đặc điểm lưỡi dao bằng kim loại sáng màu, dài khoảng 40cm, rộng khoảng 10cm, chém 01 nhát vào phần đầu t trên xuống dưới, trúng vào mũ cối bị hại đang đội trên đầu, gây ra bị thương tích tại vùng đầu, làm giảm 17% sức khỏe c a nạn nhân. Như vậy, đã có đ căn cứ để kết luận bị cáo phạm tội Cố ý gây thương tích với tình tiết định khung hình phạt là “dùng hung khí nguy hiểm” theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 .

Bị cáo bị kh i tố về tội Cố ý gây thương tích theo quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999 do hành vi phạm tội xảy ra trước ngày Bộ luật Hình sự năm 2015 có hiệu lực pháp luật. Nhưng hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự năm 2015 nhẹ hơn hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 104 Bộ luật Hình sự năm 1999. Căn cứ Nghị quyết số: 41/2017/QH14 ngày 20-6-2017 c a Quốc hội và khoản 3 Điều 7 Bộ luật Hình sự năm 2015, áp d ng quy định tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự năm 2015 để quyết định hình phạt sẽ có l i hơn đối với bị cáo. Vì vậy, chấp nhận đề nghị truy tố Viện kiểm sát nhân dân quận H ng Bàng về áp d ng tội danh và điều luật áp d ng đối với bị cáo.

Hành vi c a bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe c a người khác, đ ng thời c n gây mất trật tự, an toàn xã hội. Hành vi đó là nguy hiểm cho xã hội. Sau khi phạm tội, bị cáo đã bỏ trốn, đến ngày 15-5-2020 mới bị bắt theo Quyết định truy nã số: 18/QĐTN ngày 10-8-2017. Vì vậy, cần thiết buộc bị cáo cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo d c và răn đe, ph ng ng a tội phạm.

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tiền án, tiền sự, lần đầu phạm tội. Bị cáo thành kh n khai báo, bị cáo và gia đình đã b i thường đầy đ thiệt hại cho bị hại. B i vậy, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Ngoài ra, bị hại đã có đơn xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Mặt khác, xét bị hại cũng có một phần lỗi khi vô cớ đe dọa, xúc phạm bị cáo. B i vậy, có thể áp d ng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự, coi đây là các tình tiết giảm nhẹ khác khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt đối với bị cáo: Xét thấy, sau khi pham tội bị cáo đã bỏ trốn và bị bắt theo quyết định truy nã c a cơ quan Công an và đang bị tạm giam. B i vậy, cần buộc bị cáo phải cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo d c và ph ng ng a tội phạm. Tuy nhiên, thấy rằng bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ tại khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự như đã đánh giá tại M c [7], nên căn cứ quy định tại khoản 1 Điều 54 Bộ luật Hình sự, có thể quyết định hình phạt dưới mức thấp nhất c a khung hình phạt tại khoản 2 Điều 134 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo.

Về trách nhiệm b i thường dân sự: Tại phiên t a, bị hại vắng mặt. Nhưng trong quá trình điều tra, bị cáo và gia đình đã b i thường cho bị hại số tiền 50.000.000 đ ng. Bị hại đã có đơn xác nhận việc b i thường xong và không còn yêu cầu gì n a. Nên Hội đ ng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về vật chứng c a v án: Quá trình điều tra, cơ quan Điều tra tạm gi c a bị hại 01 mũ cối màu xanh có vết rách dài 12cm tù chóp mũ đến vãnh mũ bên phải; 01 thanh Inox dài 20cm và 01 thanh kiếm dài 50cm có cán gỗ, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, vỏ kiếm màu đen. Xét thấy, các đ vật này là c a bị hại, không còn giá trị sử d ng, bị hại không đề nghị nhận lại. B i vậy, tịch thu tiêu h y.

Về án phí: Bị cáo phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ th m.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 38; Điều 54 c a Bộ luật Hình sự năm 2015; xử phạt: DPN 18 (mười tám) tháng tù về tội Cố ý gây thương tích. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính t ngày tạm gi ngày 15-5-2020.

Căn cứ Điều 47 c a Bộ luật Hình sự, Điều 106 c a Bộ luật Tố t ng hình sự;

Tịch thu tiêu h y 01 mũ cối màu xanh có vết rách dài 12cm tù chóp mũ đến vãnh mũ bên phải; 01 thanh Inox dài 20cm và 01 thanh kiếm dài 50cm có cán gỗ, lưỡi kiếm bằng kim loại sáng màu, vỏ kiếm màu đen (theo Biên bản giao, nhận vật chứng ngày 11-8-2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Hồng Bàng, thành phố Hải Phòng).

Căn cứ vào khoản 2 Điều 135, Điều 136 c a Bộ luật Tố t ng hình sự; Điều 147 Bộ luật Tố t ng dân sự và Nghị quyết c a UBTV Quốc Hội số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016, Qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử d ng án phí và lệ phí Toà án;

Bị cáo phải nộp 200.000 đ ng án phí hình sự sơ th m.

Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án, bị hại có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận đư c bản án hoặc niêm yết bản án./. Nơi nh n:

Cỡ chữ