vanban.org

Bản án 55/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn Tuyên án 24/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn C, Nông Trần Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1. Xử phạt bị cáo Lý Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi thi hành bản án. 2. Xử phạt bị cáo Nông Trần Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 03/7/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nông Trần Đ và Lý Văn C phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn C, Nông Trần Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 17 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TRÀNG ĐỊNH
TỈNH LẠNG SƠN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2020/HS-ST
Ngày 24-12-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TRÀNG ĐỊNH, TỈNH LẠNG SƠN

- Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Bàn Văn Tiển.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Đàm Thiếu Phương;

Bà Hoàng Thị Chiểu.

- Thư ký phiên tòa: Ông Triệu Tuấn Bình - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn tham gia phiên tòa: Ông Hoàng Trường Sinh - Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 12 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 50/2020/HSST ngày 29 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2020/QĐXXST-HS ngày 27 tháng 11 năm 2020 và thông báo chuyển ngày xét xử số 596/2020/TB-TA ngày 09 tháng 12 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Nông Trần Đ, tên gọi khác: Không; sinh ngày 15 tháng 02 năm 1986, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn B, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn lớp 7/12; dân tộc: Tày; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Hoàng Văn P và bà Nông Thị T; vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 03 tiền án; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 11/9/2012 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 12 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 24/4/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 01 năm 08 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản; ngày 20/7/2016 bị Tòa án nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 03 năm tù về tội Trộm cắp tài sản. Cả 03 bản án chưa được xóa án tích; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn từ ngày 03/7/2020 cho đến nay, có mặt.

2. Lý Văn C, tên gọi khác: Không; sinh ngày 17 tháng 6 năm 1991, tại huyện T, tỉnh Lạng Sơn. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Thôn K, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn; nghề nghiệp: Làm ruộng; trình độ học vấn lớp 5/12; dân tộc: Nùng; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lương Văn L và bà Lý Thị D (đã chết); vợ, con: Chưa có; tiền án: Có 01 tiền án; Tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/02/2019 bị Tòa án nhân dân huyện Văn Lãng, tỉnh Lạng Sơn, xử phạt 15 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy chưa được xóa án tích; bị cáo bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an thành phố Lạng Sơn trong vụ án khác, có mặt.

- Bị hại:

1. Chị Vũ Thị T, sinh năm 1980.

Địa chỉ: Thôn P, xã Đ, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

2. Chị Vũ Thị H, sinh năm 1980.

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: thôn N, xã P, huyện T, tỉnh Nam Định; hiện tạm trú tại : Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

1. Ông Vũ Duy Đ, sinh năm 1959; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

2. Bà Trần Thị T, sinh năm 1964; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

3. Anh Dương Xuân Q, sinh năm 1984; địa chỉ: Thôn C, xã C, huyện T, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

4. Anh Nguyễn Đức T, sinh năm 1986; địa chỉ: Thôn N, xã C, huyện T, tỉnh Lạng, Sơn vắng mặt.

5. Anh Hứa Lý L, sinh năm 1980; địa chỉ: khu 4, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 22/5/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tràng Định tiếp nhận tin báo của ông Vũ Duy Đ, trú tại thôn C, xã C, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn trình báo: Khoảng 09 giờ ngày 22/5/2020 nhà ông Vũ Duy T ở cùng thôn (là anh trai ông Đ đã chết) bị mất trộm 01 tivi nhãn hiệu SAMSUNG; 01 tủ lạnh; 01 quạt cây.

Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã tiến hành kiểm tra xác minh tin báo tội phạm, xác định được: Nông Trần Đ và Lý Văn C là người đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của gia đình ông Vũ Duy T.

Quá trình điều tra xác định được: Khoảng 11 giờ ngày 21/5/2020 Nông Trần Đ gặp Lý Văn C ở ngã tư thị trấn T, huyện T và rủ C đi trộm tài sản đem về bán lấy tiền chia nhau thì C đồng ý. Trên đường đi Đ và C thống nhất, Đ là người trực tiếp đi trộm tài sản, còn C là người mang tài sản trộm cắp được đi bán. Đi đến thôn C, xã C, C vào nhà anh Dương Xuân Q chờ, còn Đ một mình đi bộ đến nhà ông Vũ Duy T (đã chết năm 2019) lấy trộm 01 tivi nhãn Imusic màu đen và 01 đầu Mobi tv màu đen, bạc đưa cho Lý Văn C. Sau đó Đ một mình quay lại nhà ông Vũ Duy T lấy trộm tiếp 01 tủ lạnh nhãn hiệu Sanyo và 01 bàn gỗ màu nâu cánh gián đen về nhà cất giấu. Đến khoảng 11 giờ ngày 22/5/2020 Đ mang chiếc tủ lạnh bán cho Nguyễn Đức T được 400.000 đồng; đến khoảng 15 giờ 22/5/2020 Đ mang chiếc bàn gỗ đến ngã tư thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn bán cho anh Hứa Lý L, trú tại khu 4, thị trấn N, huyện V, tỉnh Lạng Sơn được 500.000 đồng; còn chiếc tivi nhãn Imusic màu đen và 01 đầu Mobi tv màu đen, bạc Lý Văn C bán cho Dương Xuân Q được 400.000 đồng. số tiền bán tài sản được Đ và C chi tiêu cho nhu cầu cá nhân hết.

Đối với các tang vật vụ án Cơ quan Cảnh sát điều tra đã truy tìm và đã thu giữ 01 tivi nhãn Imusic màu đen và 01 đầu Mobi tv màu đen, bạc số Model CFS-8888 do Dương Xuân Q mang đến nộp; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Sanyo thu giữ tại nhà Nguyễn Đức T; 01 chiếc bàn gỗ màu nâu cánh gián đen thu giữ tại nhà Hứa Lý L.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 25/HĐĐGTS ngày 02/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Tràng Định, xác định 01 tivi nhãn Imusic màu đen giá trị còn lại là 2.820.000 đồng; 01 đầu Mobi TV giá trị 699.000 đồng.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 41/HĐĐGTS ngày 16/9/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Tràng Định, xác định 01 chiếc bàn gỗ màu nâu cánh gián đen giá trị còn lại là 2.500.000 đồng; 01 tủ lạnh nhãn hiệu Sanyo giá trị còn lại là 1.200.000 đồng.

Tổng giá trị tài sản là 7.219.000 đồng.

Về tang vật vụ án quá trình điều tra gia đình bị hại có đơn xin lại tài sản để sử dụng. Xét thấy việc trả tài sản cho chủ sở hữu không ảnh hưởng đến việc điều tra, truy tố và xét xử nên ngày 23/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tràng Định đã trả lại các tài sản trên cho chị Vũ Thị T và chị Vũ Thị H là chủ sở hữu hợp pháp.

Với nội dung sự việc trên, tại bản Cáo trạng số 54/CT-VKSTĐ ngày 28/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn đã truy tố bị cáo Lý Văn C phạm tội trộm cắp tài sản, theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nông Trần Đ phạm tội trộm cắp tài sản, theo điểm g khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự .

Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, thừa nhận hành vi của bị cáo gây ra là sai, vi phạm pháp luật; các bị hại chị Vũ Thị T và chị Vũ Thị H có đơn xin xử vắng mặt, tài sản bị mất trộm ngày 23/9/2020 Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Tràng Định đã trả lại các tài sản và không yêu cầu gì vì tài sản đã nhận lại đầy đủ; đối với anh Hứa Lý L, Nguyễn Đức T, Dương Xuân Q, không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền mà các anh bỏ ra mua tài sản và có đơn yêu cầu xử vắng mặt.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định trong phần tranh luận, vẫn giữ nguyên quan điểm đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét tuyên bố bị cáo Lý Văn C phạm tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 50; Điều 58; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lý Văn C từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng tù; tuyên bố bị cáo Nông Trần Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản” áp dụng điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; Điều 58; Điều 50; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nông Trần Đ từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù. Về hình phạt bổ sung, do các bị cáo không có tài sản nên không đề nghị áp dụng hình phạt bổ sung là hình phạt tiền. Về xử lý vật chứng: Tài sản trộm cắp Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Tràng Định đã trả cho các bị hại.

Đối với anh Hứa Lý L, Nguyễn Đức T, Dương Xuân Q, không yêu cầu các bị cáo phải trả lại số tiền mà các anh bỏ ra mua tài sản. Tuy nhiên xét thấy số tiền mà các bị cáo đã bán tài sản trộm cắp mà có được là tiền do phạm tội mà có cần truy thu nộp Ngân sách Nhà nước. Truy thu của bị cáo Nông Trần Đ 900.000 đồng , bị cáo Lý Văn C 400.000 đồng.

Trong phần tranh luận, các bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát; lời nói sau cùng các bị cáo thấy việc làm của mình là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải và xin được giảm nhẹ hình phạt, xử cho các bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên huyện Tràng Định trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Việc vắng mặt các bị hại chị Vũ Thị T, Vũ Thị H và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hứa Lý L, Nguyễn Đức T, Dương Xuân Q, giấy triệu tập tống đạt hợp lệ và những người này đều có đơn đề nghị xét xử vắng mặt và trong hồ sơ đã có đầy đủ lời khai. Xét thấy vắng mặt Hứa Lý L, Nguyễn Đức T, Dương Xuân Q và chị Vũ Thị T, Vũ Thị H không ảnh hưởng đến việc xét xử. Nên tiếp tục xét xử vụ án đúng quy định của pháp luật.

Về hành vi cấu thành tội phạm: Tại phiên tòa các bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của các bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, đồng thời hoàn toàn phù hợp với biên bản thu giữ đồ vật, phù hợp với các tài liệu khác đã thu thập được trong hồ sơ vụ án. Khoảng 11 giờ ngày 21/5/2020 bị cáo Nông Trần Đ và bị cáo Lý Văn C thống nhất, bị cáo Nông Trần Đ là người trực tiếp đi trộm tài sản, còn Lý Văn C mang tài sản trộm cắp được đem bán. Tại Bản kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự huyện Tràng Định, xác định tài sản bị cáo Lý Văn C trộm cắp có giá trị là 3.519.000 đồng; tài sản bị cáo Nông Trần Đ trộm cắp có giá trị là 3.000.000 đồng. Tổng giá trị tài sản của hai bị cáo trộm cắp được là 7.219.000 đồng. Như vậy Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn truy tố bị cáo Lý Văn C về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự đúng người, đúng tội, đúng pháp luật; đối với bị cáo Nông Trần Đ đã có 03 tiền án chưa được xóa án tích, phạm tội lần này là tái phạm nguy hiểm. Do vậy Cáo trạng truy tố bị cáo Nông Trần Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Hành vi của các bị cáo gây ra là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ. Hành vi đó gây mất trật tự an ninh của địa phương, gây bất bình trong dư luận xã hội, đồng thời các bị cáo là người có thể chất phát triển bình thường, có đầy đủ năng lực hành vi, năng lực trách nhiệm hình sự, nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao động, mắc vào tệ nạn xã hội, mục đích trộm cắp tài sản của người khác bán lấy tiền phục vụ lợi ích sử dụng ma túy và tiêu sài của bản thân nên các bị cáo đã cố tình thực hiện hành vi phạm tội. Trong vụ án này các bị cáo Lý Văn C, Nông Trần Đ tham gia với vai trò đồng phạm, nhưng chỉ là đồng phạm giản đơn, và vai trò của các bị cáo trong vụ án như nhau. Để có mức án thỏa đáng đối với từng bị cáo, Hội đồng xét xử đánh giá về nhân thân cũng như các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với từng bị cáo như sau:

Bị cáo Lý Văn C: Bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử 01 lần về tội Tàng trữ trái phép chất ma túy, chưa được xóa án tích, sau khi cải tạo xong về địa phương không tu chí làm ăn lao động lương thiện mà tiếp tục phạm tội, mà hiện nay bị cáo còn bị khởi tố, tạm giam trong vụ án khác về tội cướp giật tài sản, bị cáo lười lao động và nghiện ma túy; tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Có 01 tình tiết là tái phạm theo điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự; về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo phạm tội thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra và tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Đối với bị cáo Nông Trần Đ: Về nhân thân, bị cáo có nhân thân xấu đã bị xét xử 03 lần về tội trộm cắp tài sản, chưa được xóa án tích, sau khi cải tạo xong về địa phương không tu chí làm ăn lao động lương thiện mà tiếp tục lao vào con đường phạm tội. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Ngoài tình tiết định khung ra bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự; tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: tại phiên toà, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải, tài sản trộm cắp đã thu hồi trả cho bị hại. Do đó, bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.

Từ đánh giá trên khi lượng hình cần xem xét nhân thân của từng bị cáo để ra mức án tương xứng với hành vi của từng bị cáo gây ra. Cần xử phạt cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định nhằm răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt bổ sung: Theo biên bản xác minh ngày 21/9/2020 tại Ủy ban nhân dân xã C, huyện Tràng Định, tỉnh Lạng Sơn bản thân các bị cáo không có tài sản. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

Xử lý vật chứng: Tài sản trộm cắp Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện Tràng Định đã trả cho các bị hại, do đó Hội đồng xét xử không xem xét. Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án anh Hứa Lý L, Nguyễn Đức T, Dương Xuân Q có đơn xin xử vắng mặt và không yêu cầu các bị cáo trả lại số tiền mà anh Hứa Lý L, Nguyễn Đức T, Dương Xuân Q bỏ ra mua tài sản do các bị cáo trộm cắp có được, nay Công an huyện Tràng Định đã thu hồi tài sản trả cho các bị hại. Xét thấy anh Hứa Lý L, Nguyễn Đức T, Dương Xuân Q không yêu cầu các bị cáo trả số tiền mua tài sản là hoàn tòan tự nguyện được Hội đồng xét xử chấp nhận. Tuy nhiên, số tiền mà các bị cáo bán tài sản trộm cắp có được là tiền do phạm tội mà có, căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 46 (các biện pháp tư pháp), điểm b khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự cần truy thu nộp ngân sách Nhà nước.

Đối với hành vi của Hứa Lý L mua chiếc bàn gỗ, Nguyễn Đức T mua chiếc tủ lạnh, Dương Xuân Q mua tivi và 01 đầu Mobi tv, không biết tài sản do các bị cáo Nông Trần Đ, Lý Văn C trộm cắp mà có, nên không xem xét xử lý Hứa Lý L, Nguyễn Đức T và Dương Xuân Q trong vụ án này.

Về án phí: Các bị cáo Lý Văn C, Nông Trần Đ bị tuyên là có tội nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

[12 ] Quyền kháng cáo: Các bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Lý Văn C;

Căn cứ điểm g khoản 2 Điều 173; Điều 17; Điều 38; điểm a khoản 1 Điều 46; điểm b khoản 1 Điều 47; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 58 Bộ luật Hình sự; khoản 2 Điều 136; Điều 331; Điều 332 và Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự đối với bị cáo Nông Trần Đ;

Căn cứ khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

1. Tuyên bố: Các bị cáo Lý Văn C, Nông Trần Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

1.1. Xử phạt bị cáo Lý Văn C 02 (hai) năm tù, thời hạn tính từ ngày bị cáo đi thi hành bản án.

1.2. Xử phạt bị cáo Nông Trần Đ 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tính từ ngày 03/7/2020.

2. Truy thu 900.000 đồng (chín trăm nghìn) đồng của bị cáo Nông Trần Đ và 400.000 đồng (bốn trăm nghìn) đồng của bị cáo Lý Văn C là tiền do phạm tội mà có nộp ngân sách Nhà nước.

3. Về án phí: Buộc các bị cáo Nông Trần Đ, Lý Văn C mỗi bị cáo phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm nộp Ngân sách Nhà nước.

4. Về quyền kháng cáo: Các bị cáo Nông Trần Đ, Lý Văn C có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết công khai theo quy định của pháp luật

Cỡ chữ