vanban.org

Bản án 55/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Phong Điền, TP. Cần Thơ Tuyên án 12/11/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày 21/6/2020. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Văn nhi - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 52 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN PHONG ĐIỀN
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2020/HS-ST
Ngày 12/11/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHONG ĐIỀN, THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Nguyễn Phi Long

Hội thẩm nhân dân: 1. ông Nguyễn Thanh Hải

2. ông Nguyễn Ngọc Giang

- Thư ký phiên tòa: ông Lê Văn Cum Anh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: ông Lưu Minh Cường - Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 53/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2020/QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:

1. Họ và tên: Nguyễn Văn N, sinh năm 1995, Nơi sinh: Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp A, xã B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê (làm hồ); Trình độ học vấn: 01/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Văn B, sinh năm 1964 (Sống); Mẹ: Nguyễn Thị T, sinh năm 1965 (Sống); Chị em ruột có 04 người anh chị, lớn sinh năm 1986, nhỏ sinh năm 1992; Tiền sự: 01 lần ngày 03/8/2018 bị Công an Huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang xử phạt vi phạm hành chính về hành vi trộm cắp tài sản, số tiền 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt; Tiền án: 01 lần ngày 28/7/2018 trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang tuyên phạt 24 tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành hình phạt tù xong ngày 29/4/2020. Hiện bị cáo đang bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

2. Họ và tên: Nguyễn Tấn P, sinh năm 1999, Nơi sinh: Hậu Giang. Nơi cư trú: ấp A, Thị trấn B, huyện C, tỉnh Hậu Giang; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Cha: Nguyễn Long C, sinh năm 1967 (Sống); Mẹ: Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1967 (Sống); Là con một; Tiền sự: 02 lần, lần 1 ngày 06/4/2017, Công an thị trấn Cái Tắc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy, số tiền 375.000 đồng, chưa đóng phạt. (Phát chưa đủ 18 tuổi). Lần 2 ngày 14/6/2017, Công an thị trấn Cái Tắc ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính về hành vi tộm cắp tài sản, só tiền 1.500.000 đồng, chưa đóng phạt; Tiền án: 01 lần ngày 23/7/2017 trộm cắp tài sản, bị Tòa án nhân dân tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm tuyên phạt 12 tháng tù, chấp hành hình phạt tù xong ngày 04/9/2019. Hiện bị cáo đang bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 21/6/2020 cho đến nay. Bị cáo có mặt.

* Bị hại:

1. bà Dương Ngọc H, sinh năm 1957. Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang. Xin vắng mặt

2. anh Nguyễn Chí Đ, sinh năm 2005. Xin vắng mặt

Đại diện hợp pháp: ông Nguyễn Thanh T, sinh năm 1984 và bà Bùi Thị B, sinh năm 1980. Vắng mặt

Cùng địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho anh Đầy: ông Trần Hoàng B – Trợ giúp viên pháp lý nhà nước thành phố Cần Thơ. Có mặt

3. chị Đặng Thị Hồng N, sinh năm 1999. Địa chỉ: ấp A, thị trấn B, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

4. ông Võ Văn T, sinh năm 1977. Địa chỉ: ấp A, xã B, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ. Xin vắng mặt

5. ông Trần Văn T, sinh năm 1952. Địa chỉ: KV A, phường B, quận Ô Môn, thành phố Cần Thơ. Xin vắng mặt

6. ông Nguyễn Minh P, sinh năm 1978. Địa chỉ: KV6, phường A, quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào lúc 04 giờ ngày 21/6/2020, lực lượng Công an xã Mỹ Khánh, huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ tuần tra trên tuyến đường Nguyễn Văn Cừ thuộc ấp Mỹ Ái, xã Mỹ Khánh phát hiện bị cáo Nguyễn Văn N điều khiển xe mô tô chở bị cáo Nguyễn Tấn P thấy khả nghi nên yêu cầu dừng xe. Bị cáo N chạy nhanh thêm một đoạn rồi dừng xe bỏ chạy vào vườn lẫn trốn, bị cáo P bị lực lượng Công an xã Mỹ Khánh mời về làm việc. Công an xã Mỹ Khánh phối hợp với lực lượng Cảnh sát hình sự Công an huyện Phong Điền truy tìm và bắt được bị cáo N một lúc sau đó.

Vật chứng thu giữ: Trên người bị cáo Nguyễn Tấn P gồm 03 điện thoại di động các loại, 01 cây dao, 01 ná thun, 02 chìa khóa số 13; 01 xe mô tô biển số 67AD – 007.53, trên xe gồm 01 cuộn dây đồng, 01 máy hàn, 01 bếp gas, 01 con gà trống đựng trong giỏ đệm, 03 cây tua vít bake.

Quá trình điều tra xác định: Trưa ngày 20/6/2020 bị cáo P gặp bị cáo N tại tiệm sửa xe Thảo thuộc Thị trấn Cái tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã rủ nhau đi tìm tài sản trộm bán lấy tiền tiêu xài. Tối cùng ngày, do có hẹn trước nên bị cáo P nhờ anh Lê Phước H chở đến gần tiệm sửa xe Thảo thì gặp bị cáo N điều khiển xe mô tô biển số 67AD – 007.53 đợi sẵn, bị cáo N đem theo 01 can loại 10 lít đựng 06 lít xăng. 02 bị cáo không bàn bạc trước về địa đểm và tài sản sẽ lấy cụ thể, trên đường đi nếu phát hiện có tài sản sơ hở thì lấy trộm. Từ Thị trấn Cái tắc đến xã Mỹ Khánh cả 02 đã dừng xe lại 04 lần để thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản như sau:

Trên địa bàn huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã thực hiện 02 vụ, cụ thể:

- Vụ thứ 01: vào bên hông nhà lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Nokia (bàn phím màu đen) có gắn sim của bà Dương Ngọc H để ở trong mùng tại hành lang bên mái chái nhà.

- Vụ thứ 02: vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S (loại cảm ứng màu đen) kèm 02 sim của anh Nguyễn Chí Đ, để ở trong mùng trong nhà, anh Đ phát hiện la lên 02 bị cáo lên xe chạy thoát.

Bị cáo N và bị cáo P tiếp tục đến địa bàn huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thực hiện thêm 02 vụ cụ thể:

- Vụ thứ 01: vào nhà lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy có gắn sim và 01 con gà trống đựng trong giỏ xách đệm của chị Đặng Thị Hồng N.

Vụ thứ 02: vào phòng kho công trình đang xây dựng của Trung tâm văn hóa, thể thao và truyền thanh huyện Phong Điền lấy trộm 01 máy hàn điện hiệu Pilo Italy Technology, 01 cuộn dây đồng trần phi 50 CDV, 01 bếp gas hiệu Luxury glass của ông Võ Tấn T, Trần Văn T và Nguyễn Minh P.

Theo kết luận định giá số 46/KL.ĐGTS ngày 15/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Châu Thành A: 01 điện thoại di động hiệu Nokia có giá trị 98.000 đồng; 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S có giá trị 3.192.000 đồng.

Theo kết luận định giá số 25/KL-ĐGTS ngày 24/8/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Phong Điền: 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy có giá trị 400.000 đồng và 01 con gà trống trọng lượng 1,2kg có giá trị 120.000 đồng, tổng giá trị tài sản 520.000 đồng; 01 máy hàn có giá trị 3.200.000 đồng, 01 bếp gas có giá trị 500.000 đồng và 01 cuộn dây đồng có giá trị 2.630.000 đồng, tổng giá trị tài sản 6.330.000 đồng.

Đối với 02 vụ trộm trên địa bàn huyện Châu Thành A, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã ra Quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can và Viện kiểm sát nhân dân Tỉnh Hậu Giang đã ra Quyết định chuyển vụ án đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền để điều tra theo thẩm quyền. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền đã ra quyết định nhập vụ án hình sự vào ngày 09/9/2020.

Đối với xe mô tô biển số 67AD – 007.53 chủ sở hữu hợp pháp là bà Hồ Thị Bích P (tỉnh An Giang), hiện nay P đã chết. Chiếc xe trên được bị cáo N mua ở thành phố Hồ Chí Minh của một người không rõ lai lich, không làm hợp đồng, chỉ giữ giấy đăng ký xe nhưng đã cầm giấy xe ở Kiên Giang không nhớ tiệm gì.

Cơ quan Cảnh sát điều tra, Công an huyện Phong Điền đã trả lại cho bà Dương Ngọc H 01 điện thoại di động hiệu Nokia (kèm sim số); anh Nguyễn Chí Đ 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S (kèm 02 sim số); chị Đặng Thị Hồng N 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy (kèm thẻ sim) và 01 con gà trống; ông Võ Tấn T 01 máy hàn điện hiệu Pilo Italy Technology; ông Trần Văn T 01 bếp gas hiệu Luxury glass; ông Nguyễn Minh P 01 cuộn dây đồng trần phi 50 CDV theo các Quyết định xử lý vật chứng.

Về trách nhiệm dân sự: anh Nguyễn Chí Đ yêu cầu bồi thường điện thoại hiệu Oppo A5S. Các bị hại khác không yêu cầu về trách nhiệm dân sự.

Tại phiên tòa anh Đ có đơn yêu cầu miễn bồi thường về trách nhiệm dân sự. Về trách nhiệm hình sự xin giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Tấn P thừa nhận hành vi đồng ý khi bị cáo Nguyễn Văn N rủ đi tìm tài sản trộm cắp bán lấy tiền tiêu xài. Bị cáo Nguyễn Văn N tại Cơ quan Cảnh sát điều tra không thừa nhận có rủ bị cáo P đi tìm tài sản trộm, không thừa nhận hành vi trộm cắp tài sản chỉ thừa nhận biết bị cáo P trộm cắp tài sản khi dừng xe lần sau cùng ở Công trình đang thi công. Tại phiên tòa bị cáo N thừa nhận hình vi phạm tội của mình.

Tại Cáo trạng số 57/CT-VKSPĐ-HS ngày 13 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền đã truy tố bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Tấn P về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố luận tội: giữ nguyên quyết định truy tố.

Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn N từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.

Áp dụng điểm khoản khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm g, h khoản 1 Điều 52; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Tấn P từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù giam.

Về trách nhiệm dân sự các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 cây dao, 01 ná thun và 02 chìa khóa số 13. Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N 01 xe mô tô biển số 67AD – 007.53 và 03 cây tua vít bake.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị hại anh Nguyễn Chí Đ: anh Đầy có đơn xin giải quyết vắng mặt, không yêu cầu bồi thường về trách nhiệm dân sự, về trách nhiệm hình sự yêu cầu giải nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị cáo N và bị cáo P không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo N: xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm về với gia đình.

Lời nói sau cùng của bị cáo P: bị cáo biết sai, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục được quy định trong Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về hành vi phạm tội của các bị cáo:

Theo lời khai của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của các bị cáo tại Cơ quan điều tra, phù hợp với các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: Trưa ngày 20/6/2020 bị cáo Nguyễn Tấn P gặp bị cáo Nguyễn Văn N cả hai đã rủ nhau đi tìm tài sản trộm bán lấy tiền tiêu xài. Tối cùng ngày, do có hẹn trước nên bị cáo P đến gần tiệm sửa xe Thảo thuộc Thị trấn Cái tắc, huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang thì gặp bị cáo N điều khiển xe mô tô biển số 67AD – 007.53 đợi sẵn. Hai bị cáo không bàn bạc trước về địa đểm và tài sản sẽ lấy cụ thể, trên đường đi nếu phát hiện có tài sản sơ hở thì lấy trộm. Đêm ngày 20/6/2020 đến rạng sáng ngày 21/6/2020 từ Thị trấn Cái tắc đến xã Mỹ Khánh các bị cáo đã thực hiện 04 vụ trộm cắp tài sản.

Trên địa bàn huyện Châu Thành A, tỉnh Hậu Giang đã thực hiện 02 vụ: lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Nokia có gắn sim của bà Dương Ngọc H có giá trị 98.000 đồng; Lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Oppo A5S kèm 02 sim của anh Nguyễn Chí Đ có giá trị 3.192.000 đồng.

Trên địa bàn huyện Phong Điền, thành phố Cần Thơ thực hiện thêm 02 vụ như sau: lấy trộm 01 điện thoại di động hiệu Samsung galaxy có gắn sim và 01 con gà trống đựng trong giỏ xách đệm của chị Đặng Thị Hồng N tổng giá trị tài sản 520.000 đồng; Lấy trộm 01 máy hàn điện hiệu Pilo Italy Technology, 01 cuộn dây đồng trần phi 50 CDV, 01 bếp gas hiệu Luxury glass của ông Võ Tấn T, Trần Văn T và Nguyễn Minh P tổng giá trị tài sản 6.330.000 đồng.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Phong Điền đã ra quyết định nhập vụ án hình sự vào ngày 09/9/2020.

Tổng giá trị tài sản mà các bị cáo xâm phạm là 10.140.000 đồng. Do đó, các bị cáo đã phạm tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật hình sự. Vì vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội và tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Các bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, các bị cáo có sức khỏe nhưng lại không chịu lao động để nuôi sống bản thân mà lại thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác cho thấy bản tính chay lười lao động. Điều này thể hiện là các bị cáo có tiền án về tội trộm cắp tài sản chưa được xóa án tích, các bị cáo phạm tội hai lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm g, h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Hành vi của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội gây mất an ninh trật tự, trị an tại địa phương và gây bức xúc trong quần chúng nhân dân nên cần có mức án nghiêm khắc tương xứng với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra.

Tuy nhiên, Hội đồng xét xử xét thấy cần xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi lượng hình. Bị cáo Nguyễn Tấn P trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên được xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Bị cáo Nguyễn Văn N trong quá trình điều tra bị cáo quanh co chối tội, nhưng tại phiên tòa hôm nay bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Hội đồng xét xử xem xét áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự cho bị cáo N để thể hịện sự khoan hồng của pháp luật cho người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải.

Về trách nhiệm dân sự: các bị hại đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì khác nên Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Về xử lý vật chứng Hội đồng xét xử xét thấy như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phong Điền là phù hợp.

Về án phí sơ thẩm: mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng theo quy định Điều 135, Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án theo quy định tại Điều 331 và Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1/ Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Tấn P phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

* Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Văn N 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày 21/6/2020.

* Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g, h khoản 1 Điều 52, Điều 17 và Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: bị cáo Nguyễn Tấn P 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam. Thời hạn phạt tù tính kể từ ngày 21/6/2020.

2/ Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự và Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Tịch thu tiêu hủy: 01 (một) cây dao tự chế; 01 (một) cái ná thun và 02 (hai) chìa khóa số 13.

Trả lại cho bị cáo Nguyễn Văn N: 01 (một) xe mô tô hiệu wave biển số 67AD – 007.53, không có kiểm tra hiện trạng bên trong và 03 (ba) cây tua vít bake.

(Tất cả vật chứng trên đã qua sử dụng, Công an huyện Phong Điền đã chuyển cho Chi cục Thi hành án dân sự huyện Phong Điền theo biên bản ngày 02/11/2020)

3/ Về án phí hình sự sơ thẩm:

Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự. Buộc bị cáo Nguyễn Văn N và bị cáo Nguyễn Tấn P mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

4/ Trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo có mặt tại phiên tòa, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án đối với bị hại vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân thành phố Cần Thơ xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

5/ Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ