- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tràn trữ trái phép chất ma túy - phạm tội sản xuất, tàng trữ, vận chuyển hoặc mua bán phương tiện, dụng cụ dùng vào việc sản xuất hoặc sử dụ…"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M, bị cáo Lâm Trí Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2020/HS-ST Ngày: 01-12-2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CÀNG LONG, TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Thạch Huỳnh Liêm
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Tráng
Ông Phạm Văn Lương
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hồng Nhung – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Càng Long, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Ông Phạm Minh Lập - Kiểm sát viên.
Trong ngày 01 tháng 12 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Càng Long, tỉnh TV xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 48/2020/TLHS-ST ngày 13 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 155/2020/QĐXXST – HS, ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với ị cáo:
1. Họ v t n: Nguyễn Văn M, sinh năm 1998. Nơi cư trú: số 27 ấp Long Bình, phường 4, thành phố TV, tỉnh TV. Nghề nghiệp: Làm thuê. Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: inh; Giới t nh: Nam; T n giáo: h ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn H và bà Lê Thị Th; Tiền sự: 01 tiền sự (vào ngày 26/7/2018 bị Ủy an nhân dân phường 4, thành phố TV ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nhưng Nguyễn Văn M đã ỏ đi khỏi địa phương kh ng chấp hành quyết định), tiền án: Không; bị bắt tạm giam ngày 24/6/2020 (có mặt tại phiên tòa).
2. Họ v t n: Lâm Trí Nh, sinh ngày 26/6/2002. Nơi cư trú: Số 52 Hùng Vương, hóm 1, Phường 4, thành phố TV, tỉnh TV. Nghề nghiệp: Không nghề nghiệp. Trình độ học vấn: 6/12; Dân tộc: inh; Giới t nh: Nam; T n giáo: h ng; Quốc tịch: Việt Nam; Con bà Lâm Huệ D; Tiền sự: 01 tiền sự (vào ngày 08/10/2019 bị Công an nhân dân phường 3, thành phố TV ra quyết định xử phạt h nh ch nh 375.000 đồng về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy; bị cáo đã chấp hành xong), tiền án: Không; Bị bắt tạm giam ngày 24/6/2020, có mặt tại phiên tòa (có mặt tại phiên tòa).
- Người làm chứng: Anh Hồ Gia L, sinh năm 1997 (có đơn xin vắng mặt)
Địa chỉ: ấp H, xã ĐP, huyện CL, tỉnh TV
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
hoảng 00 giờ 30 phút ng y 24 tháng 6 năm 2020, tổ tuần tra C ng an huyện CL kết hợp C ng an xã ĐP đang tuần tra tr n tuyến đường huyện 4 thuộc ấp Long Hòa, xã ĐP, huyện CL, tỉnh TV thì phát hiện Lâm Trí Nh, sinh ngày 26/6/2002, nơi cư trú: số 52 Hùng Vương, khóm 1, phường 4, th nh phố TV, tỉnh TV điều khiển xe m t iển số 84C1- 175.94 chở Nguyễn Văn M, sinh năm 1998, nơi cư trú: Số 27 ấp Long Bình, phường 4, th nh phố TV, tỉnh TV có iểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra tiến h nh kiểm tra thì phát hiện trong túi áo khoác n phải của Nguyễn Văn M có một gói thuốc lá hiệu JET, n h ng gói thuốc lá có hai đoạn ống nhựa m u t m sọc trắng được h n k n hai đầu, n trong mỗi đoạn ống nhựa có chứa chất nghi l ma túy đá của Nhân v Minh khai hùn tiền (Nhân hùn 100.000 đồng v Minh 300.000 đồng) để mua về sử dụng, tiếp tục kiểm tra xung quanh Minh đang đứng thì phát hiện có một ịch nylon m u trắng viền đỏ, loại túi vuốt khóa miệng, n trong túi có chứa chất m u xanh dạng thảo mộc kh l gói cỏ Mỹ mà Minh vừa ném xuống đất. Công an huyện CL tiến lập i n ản ắt người phạm tội quả tang đối với hai ị cáo M và Nhân.
Tang vật tạm giữ gồm: 01 vỏ ao thuốc lá hiệu JET; 02 đoạn ống nhựa m u t m sọc trắng, h n k n hai đầu, n trong có chứa chất nghi l chất ma túy; 01 ịch nylon m u trắng có viền đỏ (loại túi vuốt khóa miệng), n trong có chứa chất m u xanh dạng cỏ nghi l chất ma túy; 01 xe m t iển số 84C1-175.94 và 01 áo khoác m u xanh đen.
Tại kết luận giám định số 221/ LGĐ ng y 26 tháng 6 năm 2020 của Phòng ỹ thuật hình sự C ng an tỉnh TV kết luận: Tinh thể trong suốt đựng trong 02 đoạn ống nhựa m u t m sọc trắng được ni m phong trong gói ni m phong có ký hiệu 02 gửi giám định đều l ma túy; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng: 0,1449 gam (Bút lục số 59).
Tại kết luận giám định số 4083/C09B ng y 18 tháng 8 năm 2020 của Phân viện khoa học hình sự tại Th nh phố Hồ Ch Minh kết luận: Thảo mộc kh đựng trong 01 gói nylon được ni m phong gửi giám định kh ng tìm thấy th nh phần các chất ma túy theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP đề ng y 15 tháng 5 năm 2018 của Ch nh phủ v Nghị định 60/2020/NĐ-CP đề ng y 29 tháng 5 năm 2020 của Ch nh phủ; khối lượng: 1,4928 gam. (Mẫu có chứa th nh phần MDMB-4en-PINACA thuộc nhóm cần sa tổng hợp chưa được đưa v o trong Danh mục các chất ma túy v tiền chất của Ch nh phủ). (Bút lục số 60).
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Lâm Trí Nh đã khai v thừa nhận hành vi phạm tội của bản thân như đã khai tại cơ quan điều tra nhưng đề nghị Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Quan điểm của Vị Kiểm sát viên đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL: Giử nguy n cáo trạng số 51/CT–VKS ngày 13 tháng 10 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân huyện CL, tỉnh TV truy tố ị cáo Nguyễn Văn M v ị cáo Lâm Trí Nh về tội T ng trữ trái phép chất ma túy theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017. Tại phi n tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện CL giữ nguy n quyết định truy tố v đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, ổ sung năm 2017 để xử phạt ị cáo M và ị cáo Nh mức án từ 01 năm 06 tháng đến 02 năm tù; Ti u hủy vật chứng v tịch thu sung v o c ng quỹ 01 xe m t iển số 84C1-175.94 theo y u cầu của ị cáo.
Tại phi n tòa, trong phần thực hiện nói lời sau cùng: Các ị cáo hứa sẽ kh ng tái phạm v xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Tr n cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan điều tra Công an huyện C ng Long, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C ng Long, Kiểm sát vi n trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người làm chứng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các h nh vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Về việc vắng mặt của người làm chứng anh Hồ Gia Lập nhưng đã có lời khai tại Cơ quan điều tra v có đơn xin xét xử vắng mặt nên không cần thiết phải hoãn phiên tòa. Do đó, căn cứ khoản 1 Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án.
[3] Về nội dung: hoảng 00 giờ 30 phút ng y 24 tháng 6 năm 2020, Tổ tuần tra Công an huyện CL kết hợp C ng an xã ĐP đang tuần tra tr n tuyến đường huyện 4 thuộc ấp Long Hòa, xã ĐP, huyện CL, tỉnh TV thì phát hiện Lâm Trí Nh điều khiển xe m t iển số 84C1- 175.94 chở Nguyễn Văn M có iểu hiện nghi vấn. Tổ tuần tra tiến h nh kiểm tra thì phát hiện trong túi áo khoác n phải của Nguyễn Văn M có một gói thuốc lá hiệu JET, n h ng gói thuốc lá có hai đoạn ống nhựa m u t m sọc trắng được h n k n hai đầu, n trong mỗi đoạn ống nhựa có chứa chất nghi l ma túy của ị cáo Nhân v Minh khai hùn tiền (Nhân hùn 100.000 đồng v Minh 300.000 đồng) mua của một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực một quán c ph gần cầu Cổ Chi n thuộc huyện Mỏ C y Nam, tỉnh Bến Tre, mục đ ch mua để sử dụng. Công an huyện CL tiến hành lập i n ản ắt người phạm tội quả tang đối với hai ị cáo M và Nhân cùng vật chứng.
[4] Về chứng cứ thu giử của các bị cáo: Tại kết luận giám định số 221/ LGĐ ng y 26 tháng 6 năm 2020 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh TV kết luận: Tinh thể trong suốt đựng trong 02 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng ký hiệu (02) đều là ma túy; Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng: 0,1449 gam. Ri ng đối với thảo mộc kh đựng trong 01 gói nylon, theo kết luận giám định số 4083/C09B ng y 18 tháng 8 năm 2020 của Phân viện khoa học hình sự tại Thành phố Hồ Chí Minh kết luận: có chứa thành phần MDMB-4en-PINACA thuộc nhóm cần sa tổng hợp chưa được đưa vào trong Danh mục các chất ma túy và tiền chất của Chính phủ và không tìm thấy thành phần các chất ma túy theo Nghị định 73/2018/NĐ-CP đề ng y 15 tháng 5 năm 2018 của Chính phủ và Nghị định 60/2020/NĐ-CP đề ng y 29 tháng 5 năm 2020 của Chính phủ nên thảo mộc khô này kh ng t nh để định tội.
[5] Về tội danh đối với hành vi của bị cáo: Tại phiên toà hôm nay, bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Lâm Trí Nh đều khai nhận do đã từng sử dụng ma túy nên ngày 24/6/2020 đã có hành vi tàng trữ trái phép 0,1449 gam loại ma túy Methamphetamine như đã được giám định trên và số ma túy này là do bị cáo M và bị cáo Nh hùn tiền (Nhân hùn 100.000 đồng và Minh 300.000 đồng) để mua của một đối tượng không rõ nhân thân lai lịch tại khu vực một quán cà phê gần cầu Cổ Chiên thuộc huyện Mỏ Cày Nam, tỉnh Bến Tre, mục đ ch mua để sử dụng chung. Lời khai của các bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra, phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang, vật chứng đã thu giữ, kết quả giám định, lời khai của người làm chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ. Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” được quy định tại điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đúng như ản Cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố l đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[6] Về t nh chất, mức độ nghi m trọng của h nh vi phạm tội: Hành vi phạm tội của các bị cáo l nghi m trọng với tính chất, mức độ phạm tội ngang nhau, đã xâm phạm trực tiếp đến chế độ độc quyền quản lý với các chất gây nghiện nói chung và ma tuý nói riêng của Nhà nước. Bị cáo nhận thức rõ hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý là vi phạm pháp luật, bị pháp luật nghi m cấm nhưng do nghiện hút, để thoả mãn cơn nghiện nên các bị cáo đã có h nh vi t ng trữ trái phép chất ma túy và bị Công an bắt quả tang cùng vật chứng. Hành vi phạm tội của bị cáo chẳng những l m gia tăng tệ nạn nghiện hút trong cộng đồng dân cư m còn gây mất trật tự trị an, làm gánh nặng cho gia đình v xã hội. Do đó, cần xử lý nghiêm, cách ly các ị cáo ra khỏi xã hội một thời gian đủ để cải tạo các ị cáo tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện và xét đến vai trò của từng bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của các bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.
[7] Về nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo M và ị cáo Nh đều xuất thân từ gia đình lao động, ị nghiện ma túy. Trong đó, ị cáo M từng có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Ủy ban nhân dân phường 4, thành phố TV ra quyết định áp dụng biện pháp giáo dục tại xã, phường, thị trấn vào ngày 26/7/2018 nhưng bị cáo M bỏ đi khỏi địa phương không chấp hành quyết định. Đối với bị cáo Nh từng có tiền sự về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy bị Công an nhân dân phường 3, thành phố TV ra quyết định xử phạt h nh ch nh 375.000 đồng vào ngày 08/10/2019 v đã được gia đình nộp phạt xong. Các ị cáo kh ng có tình tiết tăng nặng, ị cáo Nh khi phạm tội chưa đủ 18 tuổi. Tại cơ quan điều tra cũng như tại phi n tòa hôm nay các ị cáo đã có thái độ th nh khẩn khai báo, thể hiện sự ăn năn hối cải, đây l những tình tiết giảm nhẹ qui định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó khi lượng hình cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các ị cáo để thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.
[8] Về hình phạt ổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật hình sự có thể áp dụng hình phạt tiền đối với ị cáo, nhưng xét thấy ị cáo phạm tội l do ị nghiện ma tuý, mua về để sử dụng kh ng nh m mục đ ch thu lợi n n cần miễn áp dụng hình phạt ổ sung đối với ị cáo.
[9] Xử lý vật chứng: Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET; 02 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng, h n k n hai đầu, bên trong có chứa chất ma túy Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng: 0,1449 gam; Đối với 01 áo khoác màu xanh đen của bị cáo M và 01 xe mô tô biển số 84C1-175.94 của bị cáo Nh, các bị cáo kh ng y u cầu nhận lại nên cần tiêu hủy đối với áo khoác m u xanh đen và tịch thu sung vào công quỹ đối với 01 xe mô tô biển số 84C1-175.94. Vật chứng tr n đã được lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh TV.
[10] Mức hình phạt như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát l phù hợp n n được chấp nhận. Đối với đối tượng án ma túy cho ị cáo M, hiện chưa rõ nhân thân lai lịch n n tiếp tục xác minh, khi n o l m rõ sẽ xử lý sau.
[11] Án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải nộp theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ tr n,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ các Điều 45; khoản 2 Điều 136; Điều 260; Điều 268; Điều 269; khoản 1 Điều 293; Điều 299; Điều 331; khoản 2 Điều 329 v Điều 333 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1. Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn M, bị cáo Lâm Trí Nh phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn M 02 (hai) năm tù giam, thời hạn tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2020.
- Căn cứ điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 58, Điều 91 v Điều 101 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Lâm Trí Nh 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù giam, thời hạn tù tính từ ngày 24 tháng 6 năm 2020.
2. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tịch thu tiêu hủy 01 vỏ bao thuốc lá hiệu JET; 02 đoạn ống nhựa màu tím sọc trắng, h n k n hai đầu, bên trong có chứa chất ma túy Loại Methamphetamine; Tổng khối lượng: 0,1449 gam và 01 áo khoác m u xanh đen. Tịch thu sung vào công quỹ 01 xe mô tô biển số 84C1-175.94. Vật chứng tr n đã được lưu trữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện CL, tỉnh TV.
5. Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Nguyễn Văn M và bị cáo Lâm Trí Nh mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ng n đồng).
6. Về quyền kháng cáo: Bị cáo Nguyễn Văn M, bị cáo Lâm Trí Nh có mặt tại phiên tòa có quyền l m đơn kháng cáo ản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
“Trường hợp bản án, quyết định được thi h nh theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưởng chế thi h nh án theo qui định tại các Điều 6; Điều 7 và Điều 9 của Luật thi hành án dân sự; Thời hiệu thi h nh án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh TV; - V SND huyện, tỉnh; - CCTHADS huyện CL; - CAND huyện CL; - Bị cáo; - Lưu HSVA. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thạch Huỳnh Liêm |