- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Văn D. Sửa bản án sơ thẩm.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN A TỈNH HẬU GIANG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2020/HS-PT Ngày: 23 - 7 - 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN A TỈNH HẬU GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Tiến
Các Thẩm phán:
Ông Phạm Hoàng Lâm
Ông Nguyễn Hồ Tâm Tú
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Thịnh - Thư ký Tòa án.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân A tỉnh Hậu Giang tham gia phiên tòa: Bà Lê Thu Hà - Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân A tỉnh Hậu Giang xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 34/2020/TLPT-HS ngày 18 tháng 6 năm 2020 đối với bị cáo Phan Văn D do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2020/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân A huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang.
- Bị cáo có kháng cáo:
PHAN VĂN D, sinh năm: 1972; tại huyện V, tỉnh Hậu Giang; nơi cư trú: Ấp 01, xã V, huyện V, tỉnh Hậu Giang; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa: 12/12; A tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Văn H (chết) và bà Trần Thị D (chết); bị cáo có vợ là Nguyễn Thị Kim L và 02 người con (lớn nhất sinh năm 1990 và nhỏ nhất sinh năm 2002); tiền sự: Không; tiền án: Không; bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Bị cáo tại ngoại. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).
Ngoài ra, trong vụ án này còn có bị hại nhưng không có kháng cáo, không bị kháng nghị nên không triệu tập tham gia phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 18 giờ 00 phút, ngày 03/7/2019 Phan Văn D đi nhậu về rồi đem ná thun cùng với một số viên bi bằng kim loại (loại bi tròn, 06 ly) để tập bắn vào bia. Khi đi ra, anh Trần Duy T đang nhậu ở quán nước của chị Võ Thị L mới kêu D vào nhậu, khi nhậu được khoảng hơn 01 giờ anh Duy thấy D cầm ná thun nên hỏi xin, D không cho cái ná đang cầm trên tay mà về nhà lấy cái ná thun khác cho anh Duy và đi về. Lúc về, anh Nguyễn Văn H và anh Võ Văn K đang nhậu nhà anh H nên kêu D vào cùng nhậu.
Khi nhậu đến khoảng 21 giờ cùng ngày, D đã say nên cầm ná thun đi về nhà. Khi về, bị cáo D nhớ lại việc anh Phan Văn A đập phá kính cửa sổ nhà bị cáo nhưng anh A chưa sửa chữa, bồi thường nên D cầm ná thun và viên bi bằng kim loại đi đến trước cửa nhà anh A (do cửa hàng rào đã đóng), D thấy cửa kính trước nhà anh A đã đóng, trong nhà đã tắt đèn chiếu sáng nhưng tivi còn mở, D cầm ná thun và viên bi bằng kim loại vươn lên bắn thẳng qua khe hàng rào nhà anh A vào cửa trước nhà anh A 02-03 cái trúng vào 02 cửa kính, làm cho cửa kính nhà anh A bị hư hỏng, anh A cùng với Phan Khắc T (con anh A) nghe có người bắn hay chọi vật gì vào nhà nên mở cửa ra xem, khi anh A ra đến trước sân thì D cầm ná thun bắn viên bi bằng kim loại trúng vào mắt bên trái anh A gây thương tích, anh A bị choáng và quỵ xuống bụm mắt lại khoảng 03 phút, anh A thấy D giật hàng rào nhà anh A nên đứng dậy chạy ra, bị cáo D đang cầm trên tay khoảng 05 đến 07 viên bi chọi vào người anh A, anh A với D xô xát với nhau bằng tay; anh Thịnh chạy ra can ngăn thì bị D cầm cây sắt đánh trúng vùng đầu gây thương tích, chị L thấy vậy nên chạy xuống cho anh Khương và anh H hay, anh K chạy lên cùng với những người ở đó can ngăn và đưa anh A, T và D đi bệnh viện.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 122/19/TgT ngày 16/9/2019 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Hậu Giang kết luận thương tích của anh Phan Văn A là 13%, vật gây thương tích do vật tày gây nên.
Tại Bản kết luận định giá về tài sản số: 1730/KL-HĐ.ĐGTS ngày 15/10/2019 của Hội đồng định giá tài sản thuộc Ủy ban nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang kết luận tổng giá trị tài sản bị hư hỏng là: 345.600 đồng.
Đối với thương tích của Phan Văn D, Phan Khắc T, cả hai đều có đơn không yêu cầu khởi tố và từ chối giám định tổn hại về sức khỏe, không yêu cầu bồi thường nên không xem xét xử lý.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 04/2020/HS-ST ngày 10 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang quyết định:
Tuyên bố bị cáo Phan Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn D 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về phần trách nhiệm dân sự, xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo luật định.
Ngày 18/3/2020, bị cáo có đơn kháng cáo với nội dung xin hưởng án treo và xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Quan điểm của Kiểm sát viên về giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo, xử phạt bị cáo mức án 02 năm tù.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo Phan Văn D có đơn kháng cáo. Xét đơn kháng cáo của bị cáo làm và nộp trong thời hạn luật định nên được xét xử theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại các Điều 331, 332, 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Qua kết quả tranh tụng, đối chiếu các tài liệu, chứng cứ đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm. Hội đồng xét xử có cơ sở xác định: Vào ngày 03/7/2019, bị cáo Phan Văn D đã có hành vi dùng ná thun bắn viên bi bằng kim loại vào anh Phan Văn A trúng vào vùng mắt, hậu quả gây tổn hại sức khỏe của anh A theo kết luận giám định là 13%. Với hành vi và hậu quả mà bị cáo gây ra đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật Hình sự. Do đó, cấp sơ thẩm truy tố, xét xử đối với bị cáo là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.
Xét kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo. Hội đồng xét xử xét thấy: Chỉ vì nhớ lại sự việc bị hại làm hư hỏng cửa kính nhà bị cáo nhưng chưa bồi thường, bị cáo đã đến nhà bị hại dùng ná thun bắn viên bi làm vỡ cửa kính nhà bị hại, rồi bắn vào người bị hại gây thương tích. Chỉ vì nguyên cớ nhỏ nhặt, bị cáo đã xâm phạm đến sức khỏe của anh A, thể hiện ý thức xem thường pháp luật, xem thường sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, hành vi của bị cáo có tình chất côn đồ. Do đó, cần phải có hình phạt tương xứng cách ly bị cáo một thời gian để giáo dục, răn đe đối với bị cáo cũng như phòng ngừa tội phạm chung, nên Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin hưởng án treo của bị cáo.
Với tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, khi quyết định hình phạt Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo như: Bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, đã tự nguyện bồi thường trước một phần thiệt hại cho bị hại, quá trình điều tra bị hại có đơn bãi nại, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo có ông ngoại là liệt sĩ theo quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo mức án 02 năm 06 tháng tù là tương xứng. Tuy nhiên, tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo cung cấp tài liệu chứng minh bị cáo có cung cấp nhiều nguồn tin tội phạm có giá trị được cơ quan điều tra xác nhận, bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại và đã đóng án phí theo như bản án sơ thẩm, mặc dù đây là nghĩa vụ mà bị cáo phải thực hiện như qua đó cho thấy bị cáo đã ý thức hơn trong việc chấp hành pháp luật, nên xem xét áp dụng các tình tiết cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự, giảm nhẹ cho bị cáo một phần hình phạt nhằm thể hiện sự khoan hồng của pháp luật đối với người đã biết ăn năn hối cải. Đề nghị của Kiểm sát viên là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.
Kháng cáo của bị cáo được chấp nhận nên bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355, điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Phan Văn D. Sửa bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Phan Văn D phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Áp dụng: Điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự.
Xử phạt bị cáo Phan Văn D 02 (Hai) năm tù. Thời hạn phạt tù tính từ ngày bị cáo chấp hành án.
Đối với số tiền 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) được tạm thu theo Biên lai thu tiền số 0005794 ngày 06/7/2020 của Chi cục thi hành dân sự huyện Vị Thủy, tỉnh Hậu Giang sẽ được giải quyết khi thi hành án đối với bị cáo.
Về án phí: Căn cứ các Điều 135, 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
Bị cáo không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| Nơi nhận: - VKSND tỉnh Hậu Giang; - Trại tạm giam, CA tỉnh Hậu Giang; - Phòng Hồ sơ, CA tỉnh Hậu Giang; - Sở Tư pháp tỉnh Hậu Giang; - TAND, VKSND, CQĐT, Chi cục THADS huyện Vị Thủy; - Bị cáo; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Đình Tiến |