vanban.org

Bản án 55/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 18/08/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 18/08/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thảo.

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Hà Thị Thuận. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ sung một số điề…"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thảo.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 55/2020/HS-PT
Ngày: 18-8-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

-Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lương Thanh Chín.

Các Thẩm phán: Bà Đoàn Thị Thanh Thúy, ông Nguyễn Phúc.

- Thư ký phiên tòa: Bà Dụng Thị Mỹ Ái – Là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 8 năm 2020, tại trụ sở Toà án nhân dân tinh Bỉ

nh Thuâ ̣n ,

̀ xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số 49/2020/TLPT-HS ngày 26 tháng 6 năm 2020, đối với bị cáo Nguyễn Thị Thdo có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong.

Bị cáo có kháng cáo: Nguyễn Thị Th(tên thường gọi Ch), sinh năm 1976 tại tỉnh Bình Thuận. Nơi cư trú: Khu phố 11, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; Nghề nghiệp: buôn bán; Học vấn: 5/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nữ; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn B (chết) và bà Nguyễn Thị T (chết); Tiền án, tiền sự: không; bị bắt tạm giam từ ngày 25/7/2019 đến ngày 24/10/2019; có mặt.

- Bị hại kháng cáo: Bà Hà Thị Th - Sinh năm 1969, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố 02, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; có mặt.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Nguyễn Thị X - Sinh năm 1976, tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố 11, thị trấn LH, huyện TP, tỉnh Bình Thuận; vắng mặt.

- Người làm chứng:

+ Bà Hồ Thị L, sinh năm 1977.

Nơi cư trú: Khu phố 02, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

+ Bà Nguyễn Thị C, sinh năm 1947.

Nơi cư trú: Khu phố 09, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Nguyễn Thị Th có mẫu thuẫn về tranh chấp đất đai với Hà Thị Thuận. Khoảng 9 giờ ngày 08 tháng 12 năm 2018, trong lúc Thảo đang bán cá tại khu vực chợ cảng cá thuộc Khu phố 13, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong thì Thảo gặp Thuận đang ngồi mua cá tại khu chợ cá. Thảo dùng tay ấn đầu của Thuận xuống dưới, Thuận nhìn lên thì thấy Thảo, Thảo nói: “bè lũ tụi mày bữa trước phá vòng thành đất nhà tao đúng không?”. Thuận đứng dậy trả lời “chuyện gì tôi không biết, có gì lên ủy ban xã Bình Thạnh, giờ tôi đi mua cá có biết gì đâu”. Thảo tiếp tục nói “lũ tụi mày cướp đất chứ còn ai vào đây nữa?”. Trong lúc giữa Thảo và Thuận cãi nhau thì Thảo lấy trong người ra 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn dài khoản 25cm cầm ở tay phải. Thuận đang tư thế đứng khom người quay lưng về phía Thảo khoảng 1m để tính tiền cá. Khi Thuận vừa quay mặt ra phía sau bên trái. Thảo cầm dao nhá đâm hướng từ trên xuống về phía trước mặt Thuận, Thuận lo sợ bị trúng mặt nên đưa tay trái lên đỡ thì lưỡi dao trúng vào lòng bàn tay trái của Thuận gây thương tích chảy máu, mọi người đến can ngăn sau đó đưa Thuận đi đến bệnh viện điều trị thương tích.

*Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 132/2019/TgT ngày 08/3/2019 của Trung tâm pháp y – Sở Y tế Bình Thuận kết luận thương tích của Hà Thị Thuận:

- Sẹo vết thương phần mềm mặt lòng bàn tay trái. Hiện để lại sẹo mờ, kích thước 8,5 x 0,1 cm. Tỷ lệ tổn thương cơ thể là 2%.

- Tổng tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 2% (hai phần trăm)

- Vết thương bàn tay trái do vật sắc gây ra

- Vết thương bàn tay trái có chiều hướng tác động theo tư thế cơ năng của cơ thể với vật gây thương.

- Vết thương bàn tay trái hiện tại không để lại cố tật.

*Tại Bản kết luận giám định pháp y tâm thần số 536/KL/VPYTW ngày 30/9/2019 của Viện pháp y tâm thần trung ương Biên Hòa – Bộ Y tế kết luận đối với Nguyễn Thị Thảo:

- Về y học:

+ Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bênh rối loạn nhân cách và hành vi thực tổn/ Động kinh (F07.8/G40 – ICD.10)

- Về năng lực nhận thức và điều khiển hành vi:

+ Tại thời điểm gây án: Đương sự bị hạn chế năng lực nhận thức và điều khiển hành vi.

+ Hiện nay: Đương sự đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi để làm việc với cơ quan pháp luật.

- Địa điểm, thời gian hoàn thành việc giám định: 11h00 ngày 30/9/2019.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong đã quyết định:

1. Căn cứ điểm a khoản 1 Điều 134; điểm i, s, q khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị Thphạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Th09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án (ngày 03/3/2020)

Giao bị cáo Thảo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Liên Hương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Thảo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 điều 69 luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Căn cứ điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586 Điều 590, Điều 357 Bộ luật dân sự

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thcó trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho Hà Thị Thuận số tiền 12.043.735 đồng (mười hai triệu không trăm bốn mươi ba ngàn bảy trăm ba mươi lăm đồng)

Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi là 10%/năm.

3. Căn cứ khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Nguyễn Thị Thphải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 602.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.

Tòa án cấp sơ thẩm tuyên quyền kháng cáo cho những người tham gia tố tụng biết.

Ngày 15 tháng 3 năm 2020, bị cáo Nguyễn Thị Thkháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử: “Đình chỉ vụ án và tuyên bố tôi không có tội”.

Ngày 15 tháng 3 năm 2020, bị hại Hà Thị Thuận kháng cáo yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử tăng hình phạt đối với bị cáo theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận: Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự. Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thảo. Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Hà Thị Thuận. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

- Ý kiến của bị cáo Nguyễn Thị Thảo: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo kháng cáo. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử: “Đình chỉ vụ án và tuyên bố tôi không có tội”.

- Ý kiến của bị bị hại: Giữ nguyên yêu cầu kháng cáo. Yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử tăng hình phạt đối với bị cáo là phạt tù giam đối với bị cáo, không cho bị cáo hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Tại phiên tòa phúc th ẩm, bị cáo Nguyễn Thị Thtrình bày: Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong xét xử đối với tôi tội “Cố ý gây thương tích và tuyên cho bị cáo mức án 9 tháng tù treo thử thách 18 tháng là quá nặng và oan ức cho tôi, bởi lẽ: Do mâu thuẫn về tranh chấp đất đai với bà Hà Thị Thuận, khoảng 9 giờ ngày 08/12/2018 trong lúc tôi đang bán cá tại khu vực chợ cảng cá Khu phố 3, thị trấn Liên Hương, tôi có cầm con dao Thái Lan mang theo để làm cá, lúc này bà Hà Thị Thuận nghĩ tôi chém bà, nên bà Hà Thị Thuận dùng tay đẩy con dao nên bị trúng váo lòng bàn tay trái chỉ sướt, không để lại thương tật, tỉ lệ thương tật 2%.

Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử phúc thẩm nhận thấy: Nguyễn Thị Thcó mẫu thuẫn về tranh chấp đất đai với Hà Thị Thuận. Khoảng 9 giờ ngày 08 tháng 12 năm 2018, trong lúc Thảo đang bán cá tại khu vực chợ cảng cá thuộc Khu phố 13, thị trấn Liên Hương, huyện Tuy Phong thì Thảo gặp Thuận đang ngồi mua cá tại khu chợ cá. Thảo dùng tay ấn đầu của Thuận xuống dưới, Thuận nhìn lên thì thấy Thảo, Thảo và Thuận cãi nhau qua lại, lúc này tay phải Thảo cầm 01 con dao Thái Lan cán màu vàng, lưỡi bằng kim loại, mũi nhọn dài khoảng 25cm. Thuận đang tư thế đứng khom người quay lưng về phía Thảo khoảng 1m để tính tiền cá. Khi Thuận vừa quay mặt ra phía sau bên trái. Thảo cầm dao nhá đâm hướng từ trên xuống về phía trước mặt Thuận, Thuận lo sợ bị trúng mặt nên đưa tay trái lên đỡ thì lưỡi dao trúng vào lòng bàn tay trái của Thuận gây thương tích chảy máu với tỷ lệ thương tật 2%.

Bị cáo cho rằng không cố ý gây thương tích cho bị hại nhưng rõ ràng xuất phát từ mâu thuẫn về tranh chấp đất đai và bị cáo sử dụng chính con dao Thái Lan mà bị cáo mang theo là hung khí nguy hiểm có thể gây thương tích cho người khác. Hành vi của bị cáo nguy hiểm, xâm phạm đến sức khỏe của người khác thể hiện sự xem thường sức khỏe của người khác nên cần phải được xử lý nghiêm để bảo đảm tính răn đe và giáo dục, phòng ngừa tội phạm chung.

Xét thấy bị cáo Nguyễn Thị Thcó bị bệnh động kinh, quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra ra quyết định trưng cầu giám định, kết quả giám định bị cáo đủ năng lực nhận thức và điều khiển hành vi. Bị cáo đủ nhận thức được hành vi gây thương tích là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Hành vi của bị cáo là cố ý trực tiếp, hậu quả thương tích của bị hại chính hành vi trái pháp luật của bị cáo gây ra đúng như các Biên bản lấy lời khai, Biên bản hỏi cung bị can (Bút lục 79 đến Bút lục 88). Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, lời khai người làm chứng. Đủ căn cứ theo quy định của pháp luật hình sự để Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Thị Thtội “Cố ý gây thương tích” theo quy định tại Điểm a khoản 1 Điều 134; Điểm i, s, q Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ, đã xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Th09 tháng tù và cho hưởng án treo với thời gian thử thách 18 tháng, không oan, đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo.

Xét yêu cầu kháng cáo của bị hại Hà Thị Thuận yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm tuyên xử tăng hình phạt đối với bị cáo là phạt tù giam đối với bị cáo, không cho bị cáo hưởng án treo. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét, đánh giá nhân thân, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo như phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, khi phạm tội có bệnh động kinh, có nhân thân tốt, không có tiền án tiền sự nên xử phạt bị cáo Nguyễn Thị Th09 tháng tù và cho hưởng án treo với thời gian thử thách 18 tháng là đúng pháp luật.

Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử phúc thẩm không chấp nhận kháng cáo của bị cáo, không chấp nhận kháng cáo của bị hại; giữ nguyên bản án hình sự sơ thẩm như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tại phiên tòa.

Về biện pháp tư pháp: Bị cáo có hành vi xâm phạm đến sức khỏe của người bị hại nên bị cáo phải có trách nhiệm bồi thường thiệt hại về sức khỏe cho người bị hại. Mức bồi thường thiệt hại mà Tòa án cấp sơ thẩm quyết định là những chi phí hợp lý của người bị hại theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Về nội dung khác: Khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, hiệu lực ngày 15/3/2019, hướng dẫn:

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Nhưng Tòa án cấp sơ thẩm quyết định: Trường hợp bên có nghĩa vụ chậm trả tiền thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo mức lãi là 10%/năm. Quyết định như trên chưa đúng với Khoản 2 Điều 13 Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 và chưa tuyên quyền yêu cầu thi hành án dân sự theo Điều 26 Luật Thi hành án dân sự. Tòa án cấp phúc thẩm điều chỉnh phần này mà không phải sửa bản án sơ thẩm.

Về án phí phúc thẩm:

Bị cáo Nguyễn Thị Thảo, người bị hại Hà Thị Thuận phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Căn cứ vào Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thị Thảo.

Không chấp nhận kháng cáo của bị hại Hà Thị Thuận.

Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 09/2020/HS-ST ngày 03 tháng 3 năm 2020 của Tòa án nhân dân huyện Tuy Phong, tỉnh Bình Thuận.

2. Căn cứ Điểm a Khoản 1 Điều 134; Điểm i, s, q Khoản 1 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị Thphạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thị Th09 (chín) tháng tù, cho hưởng án treo; thời gian thử thách là 18 (mười tám) tháng, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (03/3/2020).

Giao bị cáo Thảo cho Ủy ban nhân dân thị trấn Liên Hương và gia đình giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo Thảo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 1 Điều 69 luật Thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Căn cứ Điểm b Khoản 1 Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 584, Điều 585, Điều 586, Điều 590 Bộ luật Dân sự.

Buộc bị cáo Nguyễn Thị Thcó trách nhiệm bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm hại cho bà Hà Thị Thuận số tiền 12.043.735đồng (mười hai triệu không trăm bốn mươi ba ngàn bảy trăm ba mươi lăm đồng)

Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

4. Căn cứ Khoản 2 Điều 135, Khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án; Điều 26 Luật Thi hành án dân sự.

Bị cáo Nguyễn Thị Th phải chịu 200.000đồng án phí hình sự sơ thẩm, 602.000đồng án phí dân sự sơ thẩm và 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bị hại Hà Thị Thuận phải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án (18/8/2020).

(Đã giải thích chế định án treo cho bị cáo Nguyễn Thị Th).

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ