- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân gia đình"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H. Anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Hoàng Lê H2.
- Căn cứ chính? Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 115 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 116 Luật Hôn nhân và gia đình
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ TỈNH QUẢNG NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 55/2020/HNGĐ- ST Ngày: 29/10/2020 "V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ UÔNG BÍ, TỈNH QUẢNG NINH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm"phán"-"Chủ"tọa"phiên"toà : Bà Nguyễn Thị Giang Thanh.
Các"Hội"thẩm"nhân"dân: Ông Thái Quang Định và bà Vũ Thị Xuyến
-Thư ký phiên tòa: Ông Lê Trung Nghĩa - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Uông Bí.
-Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Uông Bí tham"gia"phiên"tòa: Bà Nguyễn Bích Diệp - Kiểm sát viên.
Ngày 29/10/2020, tại Phòng xử án - Toà án nhân dân thành phố Uông Bí xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 139/2020/TLST - HNGĐ ngày 01/6/2020 về việc " Ly hôn, tranh chấp về nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 58/2020/QĐXXST- HNGĐ ngày 13 tháng 10 năm 2020, giữa các đương sự:
1.1.Nguyên"đơn: Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1982. Địa chỉ: Tổ 2, khu 11, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
2.Bị"đơn: Chị Hoàng Lê H2, sinh năm 1981. Địa chỉ: Tổ 2, khu 11, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh, có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*Về quan hệ hôn nhân:
Theo đơn khởi kiện, trong bản tự khai, nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày: Anh và chị Hoàng Lê H2 đăng ký kết hôn vào ngày 11/01/2008, tại Ủy ban nhân dân phường Quang Trung, thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh. Việc kết hôn trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện, không bị ai cưỡng ép. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến tháng 10 năm 2016 thì phát sinh mâu thẫu. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm, từ đó vợ chồng hay xảy ra cãi vã; cuộc sống không hòa hợp,hạnh phúc; anh chị đã sống ly thân từ tháng 12/2019; anh đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Hai bên gia đình cũng đã hòa giải cho anh chị nhưng không giải quyết được mâu thuẫn. Nay anh xác định không còn tình cảm với chị H2 nữa nên anh đề nghị Tòa án giải quyết cho anh được ly hôn với anh H.
Tại bản tự khai, chị Hoàng Lê H2 trình bày: Về hoàn cảnh, điều kiện kết hôn giữa chị và anh Nguyễn Văn H chị xác nhận như anh H đã trình bày là đúng. Chị không đồng ý ly hôn với anh H vì chị muốn các con có cả bố và mẹ. Tại phiên tòa chị trình bày: Chị và anh H sau khi kết hôn chung sống hạnh phúc đến năm 2016 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm về nhiều vấn đề trong cuộc sống; từ đó hay xảy ra cãi vã, không tìm được tiếng nói chung, không hòa hợp, hạnh phúc. Anh H đã về nhà bố mẹ đẻ sống và anh chị đã sống ly thân. Nay chị xác định không còn tình cảm với anh H nữa nên anh H xin ly hôn chị đồng ý ly hôn với anh H.
* Về con chung: Anh Nguyễn văn H và chị Hoàng Lê H2 trình bày: Quá trình chung sống anh chị có 02 (hai) con chung là Nguyễn Hoàng Gia Minh, sinh ngày 27/19/2008 và Nguyễn Hoàng Minh Khôi, sinh ngày 29/10/2014. Tại phiên tòa, anh chị thỏa thuận: Sau hi ly hôn chị H2 sẽ trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung cho đến khi hai con chung đủ 18 tuổi.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa anh chị thỏa thuận: Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung là 1.500.000đ (một triệu, nặm trăm nghìn đồng)/tháng đối với mỗi con chung, kể từ tháng 10 năm 2020 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Nguyện vọng của cháu Nguyễn Hoàng Gia Minh (sinh ngày 27/9/2008) trình bày nếu bố mẹ ly hôn cháu muốn được ở với mẹ.
* Về tài sản chung: Anh H và chị H2 trình bày: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung; không vay nợ của cá nhân, tổ chức nào, anh chị không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản chung.
Qua xác minh tại tổ 2, khu 11, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí, đại diện khu 2 cho biết: Anh H và chị H2 quá trình chung sống tại tổ 2, khu 11 có nhiều bất đồng, mâu thuẫn, do tính cách không phù hợp. Từ tháng 12/2019 anh H đã về nhà bố mẹ đẻ ở. Anh chị có 02 (hai) người con chung, hiện nay đang ở với mẹ tại khu 11, phường Thanh Sơn, thành phố Uông Bí.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa có quan điểm: Việc tuân theo pháp luật của thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa là đảm bảo theo quy định của pháp luật. Nguyên đơn và bị đơn đã cơ bản thực hiện các quyền và nghĩa vụ theo đúng quy định của pháp luật. Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Đề nghị chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về việc ly hôn và nuôi con chung. Về mức cấp dưỡng: Anh H cấp dưỡng nuôi 02 con là 3.000.000đồng/tháng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án: Là tranh chấp về ly hôn, tranh chấp về nuôi con theo quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự, thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Uông Bí.
Xem xét nội dung yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Nguyễn Văn H:
Về quan hệ hôn nhân: Anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Lê H2 đăng ký kết hôn với nhau vào ngày 11/01/2008; đây là hôn nhân hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Sau khi kết hôn anh chị chung sống hạnh phúc đến năm 2126 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do vợ chồng bất đồng quan điểm; vì vậy hay xảy ra cãi vã; vợ chồng đã sống ly thân, không còn quan tâm đến nhau. Anh chị xác định không còn tình cảm với nhau; tại phiên tòa anh chị có quan điểm thuận tình ly hôn; mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã được đại diện địa phương nơi anh chị chung sống xác nhận. Như vậy mâu thuẫn vợ chồng giữa anh chị đã thực sự trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, nên cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị H, cho anh H ly hôn với chị H2.
Về con chung: Quá trình chung sống anh chị có 02 (hai) con chung là Nguyễn Hoàng Gia Minh, sinh ngày 27/9/2008 và Nguyễn Hoàng Minh Khôi, sinh ngày 29/10/2014. Anh chị thỏa thuận sau khi ly hôn chị H2 là người trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung. Xét thấy hiện nay chị H2 đang trực tiếp nuôi hai con chung; chị H2 có chỗ ở, có việc làm và thu nhập ổn định (thu nhập khoảng 12 triệu đồng/tháng), nên đảm bảo điều kiện để nuôi dưỡng và giáo dục các con. Nguyện vọng của cháu Nguyễn Hoàng Gia Minh cũng muốn được ở với mẹ. Vì vậy chấp nhận sự thỏa thuận anh chị, giao hai con chung cho chị H2 trực tiếp nuôi dưỡng là phù hợp.
Về cấp dưỡng nuôi con: Tại phiên tòa anh H và chị H2 thỏa thuận: Anh H có nghĩa vụ cấp dưỡng cho mỗi con chung số tiền 1.500.000đ (một triệu, năm trăm nghìn đồng)/tháng. Xét sự thỏa thuận cảu anh chị là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 82; Điều 116 Luật hôn nhân và gia đình, nên chấp nhận.
Về tài sản chung: Anh H và chị H2 trình bày quá trình chung sống anh chị không có tài sản chung; không vay, nợ của cá nhân, tổ chức nào và không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét.
Từ những nhận định trên đây, xét thấy có căn cứ để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Về án phí: Anh H phải chịu án phí ly hôn và án phí cấp dưỡng nuôi con theo quy định của pháp luật.
Về quyền kháng cáo: Anh H và chị H2 được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Vì"các"lẽ"trên,"
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 266; Điều 271; Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 115; Điều 116; Điều 117; Điều 118 Luật hôn nhân và gia đình;
Căn cứ điểm a khoản 5 và điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 quy định về án phí, lệ phí của Uỷ ban thường vụ quốc hội;
Tuyên xử:
1.Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Nguyễn Văn H. Anh Nguyễn Văn H được ly hôn với chị Hoàng Lê H2.
2.Về con chung: Giao cho chị Hoàng Lê H2 trực tiếp nuôi dưỡng 02 (hai) con chung là Nguyễn Hoàng Gia Minh, sinh ngày 27/9/2008 và Nguyễn Hoàng Minh Khôi, sinh ngày 29/10/2014, kể từ tháng 10 năm 2020 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Anh Nguyễn Văn H có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con chung cho chị Hoàng Lê H2 số tiền 1.500.000đ (một triệu, năm trăm ngìn đồng) đối với mỗi con chung, kể từ tháng 10 năm 2020 cho đến khi các con chung đủ 18 tuổi.
Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
3.Về án phí ly hôn: Anh Nguyễn Văn H phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn và 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí cấp dưỡng nuôi con; được trừ vào số tiền 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) đã nộp tạm ứng án phí theo Biên lai thu tiền số 0003378 ngày 28/5/2020 của Chi cục thi hành án dân sự thành phố Uông Bí, tỉnh Quảng Ninh.
4. Anh Nguyễn Văn H và chị Hoàng Lê H2 được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: -VKSND TP Uông Bí; -TAND tỉnh Quảng Ninh; -Chi cục thi hành án DS TP Uông Bí; -Các đương sự; - UBND phường Quang Trung, TP Uông Bí; -Lưu hồ sơ; -Lưu VP. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Giang Thanh |