vanban.org

Bản án 55/2020/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Luật Hôn nhân và gia đ nh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Bà Phạm Thị Thùy D khởi kiện vụ án tranh chấp về ly hôn với ông Nguyễn Văn T"
  • Tòa quyết gì? Luật Hôn nhân và gia đ nh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHỢ MỚI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 55/2020/HNGĐ-ST
Ngày: 14-5-2020
V/v tranh chấp ly hôn, nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHỢ MỚI, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Hùng

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Hoàng Thị Thiện Lai;

2. Bà Phan Thị Nga.

- Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Thảo, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Chợ Mới, tỉnh An Giang tham

gia phiên tòa: Không tham gia.

Trong ngày 14 tháng 5 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Chợ

Mới xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 855/2019/TLST-HNGĐ ngày 12

tháng 12 năm 2019 về tranh chấp ly hôn, chia tài sản khi ly hôn theo Quyết định

đưa vụ án ra xét xử số 85/2020/QĐXX-ST ngày 16 tháng 3 năm 2020, giữa các

đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Phạm Thị Thùy D, sinh năm 1991; địa chỉ: ấp T, xã

T1, huyện C, tỉnh An Giang; Có mặt;

2. Bị đơn: Ông Nguyễn Văn T, sinh năm 1993; địa chỉ: ấp T, xã T1,

huyện C, tỉnh An Giang; Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện, ản tự khai nguyên đơn Phạm Thị Thùy D tr nh ày:

Bà và ông Nguyễn Văn T quen iết tự t m hiểu nhau và tiến tới hôn nhân, được

gia đ nh đôi ên tổ chức lễ cưới năm 2019, có đăng ký kết hôn tại Ủy an nhân

dân xã T1. Quá tr nh chung sống hạnh phúc đến ngày 28/11/2019 th phát sinh

mâu thuẫn, ông T đánh và đuổi ra khỏi nhà, mẹ chồng iết chuyện nhưng không

khuyên can, thấy không thể duy tr cuộc sống chung nên yêu cầu được ly hôn

với ông Nguyễn Văn T. Về con chung: Chưa có; Về tài sản chung: không tranh

chấp và về nợ chung: Không có.

Trong quá tr nh giải quyết vụ án, ị đơn ông Nguyễn Văn T có ý kiến

đồng ý ly hôn theo yêu cầu của vợ và khởi kiện phản tố yêu cầu Tòa án phân chia tài sản là 20 chỉ vàng 24Kara loại 9999, chị em của ông cho 04 chỉ vàng 24Kara, khi cưới xong có án 06 chỉ vàng 24Kara để mua xe Wave (trị giá 19.000.000đồng) cho vợ chạy đi làm (hiện chiếc xe này ông đứng tên và quản lý sử dụng), vợ chồng lấy 03 chỉ vàng án mua lại 02 sợi dây chuyền vàng 18Kara mỗi người một sợi; mẹ ông là à Nguyễn Thị L, lấy 04 chỉ vàng 24Kara mua 01 ộ vòng 07 chỉ loại vàng 18Kara, hiện còn lại 11 chỉ vàng 24Kara à D đang giữ nay yêu cầu à D chia phần ông được hưởng là 01 chỉ vàng 24Kara, 01 sợi dây chuyền vàng 18Kara, 01 ộ vòng 18 trọng lượng 07 chỉ. Tại phiên tòa ông Nguyễn Văn T xác định đang giữ tài sản chung là chiếc xe Wave và cây tủ cưới.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại

phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Bà Phạm Thị Thùy D khởi kiện vụ án tranh chấp

về ly hôn với ông Nguyễn Văn T. Ông T có nơi cư trú trên địa àn huyện C, tỉnh An Giang. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án nhân dân huyện Chợ Mới thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa à Phạm Thị Thùy D và ông

Nguyễn Văn T là hợp pháp v ông à có đăng ký kết hôn. Trong cuộc sống chung vợ chồng ông à mâu thuẫn do ất đồng quan điểm trong cuộc sống, nên thường xuyên xảy ra cự cãi. Xét thấy, à D yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án ông T thống nhất ly hôn. Căn cứ Điều 55 Luật hôn nhân và gia đ nh năm 2014, Tòa án công nhận sự thuận t nh ly hôn của à D, ông T.

Về quan hệ con chung: Không có nên không xét.

Về quan hệ tài sản: Bà Phạm Thị Thùy D khởi kiện không yêu cầu

tòa án giải quyết về phần tài sản; ông Nguyễn Văn T phản tố yêu cầu được chia tài sản là 20 chỉ vàng 24Kara loại 9999, chị em của ông cho 04 chỉ vàng 24Kara, khi cưới xong có án 06 chỉ vàng 24Kara để mua xe Wave (trị giá 19.000.000đồng) cho vợ chạy đi làm (hiện chiếc xe này ông đứng tên và quản lý sử dụng), vợ chồng lấy 03 chỉ vàng án mua lại 02 sợi dây chuyền vàng 18Kara mỗi người một sợi; mẹ ông là à Nguyễn Thị L, lấy 04 chỉ vàng 24Kara mua 01 ộ vòng 07 chỉ loại vàng 18Kara, hiện còn lại 11 chỉ vàng 24Kara à D đang giữ nay yêu cầu à D chia phần ông được hưởng là 01 chỉ vàng 24Kara, 01 sợi dây chuyền vàng 18Kara, 01 ộ vòng 18 trọng lượng 07 chỉ; à D xác định chiều tối ngày 28/11/2019, ông T gây chuyện rồi đánh à, đuổi ra khỏi nhà, mẹ chồng iết chuyện không khuyên can mà cũng đuổi không cho lấy xe đi, không cho lấy đồ đạc g theo, à không iết nữ trang ngày cưới còn hay không; ông T tự khai mẹ chồng đã án 04 chỉ vàng cưới để mua ộ vòng cho à đeo, thực tế à không iết việc này. Bà không giữ vàng cưới, không được quản lý, không được hỏi ý

kiến về vàng cưới. Ngoài ra, khi về làm dâu nhà chồng à có đem theo cây tủ áo,

à xin lấy lại làm kỷ niệm mà gia đ nh chồng cũng không cho đem đi nên cũng

ỏ luôn không dám tranh chấp. Các đương sự có lời khai mâu thuẩn với nhau,

qua đối chất lời khai đã có cơ sở xác định hiện tại tài sản chung của vợ chồng

hiện có là chiếc xe Wave và cây tủ áo ông T đang giữ, các tài sản này các đương

sự không tranh chấp nên không xét; đối với yêu cầu chia tài sản chung của ông

T, vào thời điểm à D đi ra khỏi nhà chồng không có mang theo tài sản; ông T

không chứng minh được vợ chồng còn có tài sản chung theo đơn khởi kiện nên

không có cơ sở để chấp nhận yêu cầu phân chia tài sản chung.

Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

Về án phí: Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: Các Điều 28, 35, 39, 147 và 273 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 55

Luật Hôn nhân và gia đ nh; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày

30/12/2016 của Ủy an thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm,

thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị Thùy D, không

chấp nhận yêu cầu phản tố của ông Nguyễn Văn T.

1) Về quan hệ hôn nhân: Công nhận sự thuận t nh ly hôn giữa à Phạm

Thị Thùy D với ông Nguyễn Văn T. Giấy chứng nhận kết hôn số 125/2019 ngày

28/8/2019 do Ủy an nhân dân xã T1, huyện C, tỉnh An Giang cấp, không còn

giá trị pháp lý.

2) Về quan hệ con chung: Không có.

3) Về quan hệ tài sản chung: Không chấp nhận yêu cầu của ông Nguyễn

Văn T yêu cầu được hưởng là 01 chỉ vàng 24Kara, 01 sợi dây chuyền vàng

18Kara, 01 ộ vòng 18 trọng lượng 07 chỉ.

4) Về nợ chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét đến.

5) Về án phí: Bà Phạm Thị Thùy D phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là

300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm ngh n đồng), được khấu trừ vào tiền tạm nộp

án phí đã nộp 300.000đồng (Bằng chữ: Ba trăm ngh n đồng) theo iên lai thu số

0007632 ngày 12/12/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ Mới, tỉnh

An Giang. Bà Phạm Thị Thùy D đã nộp đủ; Ông Nguyễn Văn T không phải chịu

án phí phân chia tài sản. Ông T được nhận lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp

1.575.000đồng (Bằng chữ: Một triệu năm trăm ảy mươi lăm ngh n đồng) theo

iên lai số 0007865 ngày 09/01/2020 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Chợ

Mới, tỉnh An Giang.

6) Về quyền kháng cáo: Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự

có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành

án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ